VŨ KHÍ TẦM XA – Yếu tố luôn khơi mào các cuộc chiến
Từ xưa tới nay, trên thế giới luôn phải trải qua các cuộc
chiến tranh lớn nhỏ khác nhau.
Vậy thì ai, dân tộc nào, quốc gia nào dám khơi mào cuộc
chiến? Và họ có ưu thế gì mà dám gây chiến?
Theo chiến tranh cổ điển (cơ
bắp) thường áp dụng theo những nguyên tắc sau:
MẠNH HƠN: Ai mạnh hơn sẽ chiến
thắng và trở thành tướng. Tộc nào có nhiều mãnh tướng thường chiến thắng trở
thành Lãnh chúa.
ĐÔNG HƠN: Ai thu phục được nhiều
lãnh chúa thì lập vương quốc, quốc gia và thành Vua
Vậy khả năng nào để một quốc gia
dám gây chiến với một quốc gia khác, một nước hay nhiều nước khác!
Qua tìm hiểu từ các cuộc chiến tranh từ xưa tới nay, chúng
ta dễ dàng thấy một điều: Yếu tố chính là những ai, quốc gia nào có được vũ khí tầm xa tốt hơn và khả năng tác
chiến từ xa, khả năng cơ động đánh xa tốt
hơn luôn là những kẻ gây chiến và khơi mào chiến tranh trước các quốc gia khác.
PHẦN I
Theo
Genk.vn
Đầu thế kỷ 13, từ những thảo nguyên hoang vu ở Trung Á, người Mông Cổ đã cất vó ngựa chinh phạt khắp lục địa Á – Âu và tạo nên một trong những đế quốc vĩ đại nhất thế giới. Đế chế Mông Cổ là một trong những đế chế hùng mạnh nhất của lịch sử chiến tranh thế giới.
Đế chế Mông Cổ được Thành Cát Tư Hãn (Ghengis Khan) - nhà lãnh đạo tài năng, xuất sắc đã dẫn dắt những chiến binh từ thảo nguyên từng bước trở thành đạo quân hùng mạnh. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đế chế Mông Cổ đã phát triển lớn mạnh chưa từng thấy. Ở thời điểm cực thịnh của mình, người Mông Cổ đã xây dựng được một đế chế trải dài hơn 9700 km với diện tích lên tới 24 triệu km2, tương đương 1/6 thế giới, chiếm tới 16% diện tích bề mặt trái đất đã rơi vào tay họ. Quân đội Mông Cổ tràn qua châu Á, cướp phá và giết người tàn bạo. Theo các nhà nghiên cứu, khoảng 60 triệu người đã bỏ mạng trong các cuộc xâm lược của quân Mông Cổ.
.. Để chinh phục được một lãnh thổ rộng lớn như thế, người Mông Cổ đã xây dựng cho mình một đội quân thiện chiến bậc nhất lúc bấy giờ. Với khả năng cưỡi ngựa bắn cung trong chăn nuôi, săn bắn trên thảo nguyên, người chiến binh Mông Cổ khi tham chiến thật dễ dàng lùa đối thủ của mình như lùa những con thú, rồi hạ gục họ và người đã thu phục và tập trung những chiến binh này là thủ lĩnh Thiết Mọc Chân - Temüjin, sau trở thành Thành Cát Tư hãn của Đế quốc Mongol - Mông Cổ.
TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI
Thủ lĩnh Thiết Mộc Chân sau khi thu phục và sát nhật các bộ tộc trên thảo nguyên đã thiết lập hệ thống cai trị quân đội theo phân cấp: Thập hộ trưởng - arban (10 lính), Bách hộ trưởng - zuun (100 lính), Thiên hộ trưởng - myangan (1000 lính) và Vạn hộ hầu - tumen (10.000 lính). Mổi thủ lĩnh mỗi cấp có quyền cai quản chăm lo cuộc sống số hộ dân tương đương với cấp của mình đảm nhận và có trách nhiệm luôn đảm bảo đủ số lính khi có chiến tranh. Với chính sách này, Thủ lĩnh Thiết Mộc Chân đã tăng nhanh quân số cho đạo quân của mình qua các cuộc chinh phục mà ông không phải lo lắng về việc cai trị dân chúng các bộ tộc đã khuất phục. Mỗi đội quân nhỏ nhờ có tính cục bộ địa phương bộ tộc riêng nên họ hiểu rõ nhau, luôn bảo vệ nhau trong giao chiến và luôn mong dành nhiều chiến công để mở rộng đội quân bộ tộc của mình bằng các chiến lợi phẩm là những hộ dân nô lệ..
Trong các cuộc viễn chinh, các tướng lĩnh, thủ quân các đội quân luôn được tưởng thưởng ngay tại trận mạc những chiến lợi phẩm thu được hoặc do cướp bóc từ những thành phố, làng mạc của đối phương theo chiến công của đội quân do mình phụ trách lập nên, không cần phân biệt giai cấp, đẳng cấp xã hội. Chính điều này đã làm cho các đạo quân của Thành Cát Tư Hãn mỗi khi viễn chinh không phải lo lắng về lương thực và luôn tự lớn mạnh nhờ sự gia nhập của các bộ tộc đơn lẻ, của các thành phần dân du mục,… chỉ luôn hả hê với việc cướp bóc, chém giết. Nhưng cũng chính điều đó mà đạo quân Mông Cổ cũng bị cho là đạo quân tàn bạo nhất
NGỰA – Tóc độ hành quân và tập kích
Người Mông Cổ có máu du mục ở trong tim. Họ mạnh mẽ khi chiến đấu trên lưng ngựa. Ngựa cũng được coi là một chiến binh, một loại vũ khí không thể thiếu được. Giống ngựa Mông Cổ bắt nguồn từ những đồng cỏ phương Bắc với vóc dáng có phần nhỏ hơn, chân ngắn hơn, bờm và đuôi rậm hơn, song chúng ít đòi hỏi chăm sóc, sức chịu đựng tốt, có thể sống quanh năm bằng cỏ mọc trên thảo nguyên, đặc biệt thích nghi tốt với khí hậu cận ôn đới.
Quân đội Mông Cổ có thể tác chiến hiệu quả ở những vùng đất lạnh giá như Siberia cũng như vùng đất nóng bức
Trong suốt thế kỷ XIII, vó ngựa của quân xâm lược Mông Cổ đã tung hoành khắp nơi, ngựa Mông Cổ có thể nói là phương tiện duy nhất để di chuyển đại quân từ Á sang Âu. Vó ngựa Mông Cổ được coi là đi đến đâu thì cỏ không mọc được, phi đến đâu thành bình địa đến đó.
CHIẾN THUẬT
Kỵ binh Mông Cổ xưa nay khi tác chiến đều không mang theo quá nhiều lương thực. Khi hành quân, phụ nữ thường lùa gia súc theo, cùng với tốc độ hành quân của đại quân, hai bên có quân kị theo kèm bảo vệ. Đoàn gia súc này chính là lương thực của họ: có sữa để uống, có thịt để ăn. Quân Mông Cổ ưa thích lối đánh “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, nuôi quân bằng lương thực, chiến lợi phẩm cướp bóc được trên đường tấn công.
Lối đánh của người Mông Cổ có hai điểm nổi bật, đó là dùng tốc độ ngựa phi bất ngờ đánh nhanh thắng nhanh và giả thua rồi đột ngột quay lại tấn công. Cả hai chiến thuật này đều làm cho hàng ngũ địch mất tinh thần, rối loạn.
Họ có thể bắn tên cực kì chính xác khi phóng ngựa nhanh và thậm chí có thể xoay người bắn ngược chính xác vào kẻ truy đuổi. Chính vì thế, đòn "hồi mã cung" được coi là "đặc sản" của đội quân Mông Cổ.
Chẳng hạn như để tạo uy thế sức mạnh của các đội kỵ binh thiện chiến, phát huy tối đa lợi thế di chuyển nhanh, quân Mông Cổ thường dùng bài chia cắt, chẻ lực lượng quân đối phương tan mỏng ra và áp đảo các cánh quân nhỏ lẻ này bằng cung nỏ.
VŨ KHÍ: Cung và tốc độ bắn
Khi cung nỏ được đưa vào chiến trường và có tính quyết định thắng bại của trận chiến, người ta mới chú ý phân loại về cung nỏ và sự lợi hại của vũ khí tầm xa này.
Cung tên xuất hiện từ những thợ săn, vì phải luồn lách trong rừng để theo rình con mồi nên cung thưởng ngắn (Short bow) và đơn giản. Tầm bắn khoảng 25 – 30m phù hợp với tầm nhìn và khả năng thu hồi chiến lợi phẩm của thợ săn. Loại cung này không dùng trong chiến trường được.
Xuất thân từ thảo nguyên – những thợ săn người Mông Cổ với tài cưỡi ngựa tuyệt đỉnh nhằm theo đuổi và lùa dã thú, mắt nhìn rộng trên thảo nguyên tìm mồi, tay chân khỏe mạnh, dẻo dai nên họ sử dụng loại trường cung có tầm bắn xa hơn. Khi trở thành chiến binh cung Thủ Mông Cổ có thể bắn nhiều mục tiêu cùng lúc xứng đáng là bậc thầy chiến đấu. Cung thủ Mông Cổ sử dụng chủ yếu là loại composite bow (Cung cải tiến), một người lính có khi được trang bị từ 2 – 3 cây cung và vô số tên bắn.
- Cung cải tiến (Composite bows): Được phát minh ra bởi người Ai Cập, ở châu Á thời Xuân Thu Chiến Quốc ( khoảng thế kỉ 4 trước công nguyên ) người Trung Quốc cũng có loại cung này. Nó dài hơn cung ngắn (Short bow – Cung đi săn) . Mũi tên đã đạt đến chiều dài 80–85 cm (của người Ba Tư), thậm chí lên đến gần 90 cm (của người La Mã). Tầm bắn của Composite bow khoảng 180m và khả năng xuyên thấu mạnh.
Composite bow được làm từ rất nhiều nguyên liệu khác nhau như gỗ, tre, sừng, gân động vật. Lòng cung làm bằng tre hoặc gỗ quý được dát sừng trâu, ngà voi và được quấn lại bằng gân trâu bò thuộc. Cánh cung làm bằng gỗ dâu, cũng có khi làm bằng sừng hoặc ngà. Chuyện về chiếc cung được làm bằng Ngà voi, đó là trường-hợp của Cây Cung ngoại lệ bằng ngà của Sở Cung Vương vào thời đại Xuân Thu (722-481 trước CN) đã đưa cho nhà thiện xạ Dưỡng Do Cơ bắn chết Ngụy Kỳ.
Vật liệu chế tạo là thế còn kỹ thuật chế tác Composite bow cũng cực kì phức tạp đòi hỏi kỹ thuật chuyên môn rất cao, nên ở nhiều quốc gia thời Trung Cổ thợ làm cung luôn được coi trọng trong xã hội.
Cung của người Mông Cổ là một chiếc cung cải tiến uốn ngược phức hợp 3 khúc, một vũ khí được gia công bằng gỗ, sừng và gân động vật. Các cung thủ Mông Cổ thường luyện tập với bia bắn cách xa 200 m . Tầm bắn chiến đấu của cung Mông Cổ được là 200 - 300 yard ( 182 - 275m ), nó có thể phóng một mũi tên xa tới 300m.
Khi người Mông Cổ đặt chân lên Nhật Bản họ đã ngạc nhiên vì tầm bắn hạn chế của cung Nhật và dĩ nhiên họ dễ dàng áp đảo quân Nhật từ khoảng cách xa hơn. Tuy nhiên sau khi Mông Cổ đã rút đi, người Nhật vẫn duy trì cách sử dụng cung truyền thống, có lẽ là bởi cách đánh trận của người Nhật thường trang bị giáp dày và nặng. Vì thế yếu tố xuyên giáp tầm gần mới là mục tiêu chính của các cung thủ Nhật. Dân Đại Việt ta cũng đã có vinh dự đối mặt với đạo quân này rồi.
- Thân Tên : Thời Thượng Cổ, Thân Tên được làm bằng gỗ, vì trọng lượng nặng mà tên bắn không được xa. Đến thời Trung Cỗ, thân Tên được làm bằng Cỏ Bồng, nên bắn được xa hơn nhiều. Và chính vì thế mới có thành ngữ “Tang Bồng Hồ Thỉ” (Cung người Hồ bằng gỗ Dâu, Tên bằng cỏ Bồng) để nói về chí khí kẻ làm trai.
Tuy nhiên Thân Tên làm bằng Cỏ Bồng không bền chắc để sử-dụng ngoài sa trường, nên về sau Thân Tên được làm bằng gỗ Thông Bá Hương, vừa nhẹ lại vừa bền chắc và dẽo dai hơn. Theo sử sách, khả năng dùng tên của người Mông Cổ cũng đã được công nhân, họ đã sử dụng nhiều loại tên, nổi tiếng nhất là Tên Còi: là một loại mũi tên rỗng ruột (như cây sáo, tạo ra âm thanh như tiếng huýt sáo). Mỗi khi cung thủ Mông Cổ tấn công, tiếng rít của những mũi tên phóng ra đã gây bao nỗi kinh hoàng cho kẻ thù vì tiếng rít vừa dứt thì vó ngựa đã ập đến chém giết của đạo quân Mông Cổ hung tàn.
Loại tên này cũng được các thủ lĩnh Mông Cổ sử dụng chủ yếu để ra hiệu trong trận mạc.
- Mũi tên: Thời kì đầu, mũi tên được làm bằng đá lửa. Về sau được làm bằng xương rồi được đúc từ đồng, sắt và cuối cùng là thép trui. Đầu mũi tên có nhiều hình dáng khác nhau, thường được bịt thép, có thể có ngạnh và tẩm độc.
THÔNG TIN LIÊN LẠC
Thành Cát Tư Hãn đã biết tận dụng tài cưỡi ngựa của chiến binh Mông Cổ và sự di chuyển nhanh lẹ của ngựa để thiết lập hệ thống thông tin chiến sự.
Hệ thống bưu chính của đế quốc Mông Cổ cũ được gọi là Yam – có nghĩa là "trạm kiểm soát". Một chiến binh đưa thư thường phải di chuyển 40 km giữa 2 trạm kế tiếp nhau. Sau đó người này có thể nhận ngựa mới đã được nghỉ ngơi hoặc đưa thư đó cho người tiếp theo để đảm bảo tốc độ chuyển thư nhanh nhất có thể. Một ngày chiến binh Mông Cổ có thể di chuyển quãng đường 200km.
Tại một thời điểm, trên toàn bộ diện tích Mông Cổ chiếm được có khoảng 1.400 trạm như thế với hơn 50.000 con ngựa sử dụng để chuyển thư tín, bưu phẩm.
Trong chiến tranh, nhờ thông tin
chiến sự kịp thời đã giúp Thành Cát Tư Hãn và các bộ tướng của ông như Cáp
Tát Nhi (Khasar) Hợp
Xích Ôn (Khajiun), Thiết
Mộc Cách (Temüge) Tốc Bất Đài ( Subutai)
Triết Biệt (Jebe)…
chuyển bại thành thắng nhiều trận chiến sinh tử.
Do đó, với ưu thế vượt trội tác xạ tầm xa cộng với khả năng di chuyển nhanh dễ dàng chiếm lĩnh ưu thế về địa hình đã giúp cho một dân tộc du mục nhỏ bé Mông Cổ dám gây chiến và chiến thắng chiếm lĩnh nhiều vùng đất rộng lớn của nhiều quốc gia lớn mạnh hơn họ nhiều lần.
Sau những thành công vang dội
của Đạo quân Thành Cát Tư Hãn, các đội quân cung binh đã được nhiều quốc gia quan tâm xây dựng, nâng cấp cũng như chú tâm trong việc chế tạo vũ khí tầm xa này, lực lượng kị binh nhẹ cũng không ngoại
lệ nhằm chiếm ưu thế trên chiến trường hay nhanh chóng tập kích hoặc phòng thủ
tích cực. Hai đối tượng sức mạnh quân sự này sau này phát triển thành các lược lượng pháo binh, tên lửa nhằm khống chế tầm xa, thành lực lượng không quân, lính dù đổ bộ và các loại chiến xa nhằm tăng khả năng tác chiến tầm xa tại các quốc gia có tiềm lực quân sự hiện nay.
Còn tiếp: PHẦN II – NHỮNG
CUỘC CHIẾN CỦA NAPONEON
SG, Oct 22, 2017
Street Talk



