Phiếm đàm: THẾ
CUỘC TRUNG HOA
Đất nước Trung
Quốc (Trung Hoa lục địa) ngày nay lại gây sự chú ý đối với an ninh của thế giới
vì sự lớn mạnh về kinh tế, quân sự và những mưu toan bành trướng trên toàn thế
giới của họ.
Để hiểu rõ về
họ, chúng ta nên nhìn lại lịch sử lập quốc của họ và những bài học về ngoại
giao và quân sự trong quá trình hình thành lịch sử đó.
1- TRUNG
HOA XƯA
Vào
thời Chiến Quốc, trên vùng đất lưu vực sông Hoàng Hà (còn gọi là vùng Hoa Hạ),
trải qua nhiều năm đánh chiếm lẫn nhau giữa những nước chư hầu đã hình thành
một số nước khá lớn, chủ yếu là có Tề (齊), Sở (楚), Yên (燕), Hàn(韓), Triệu (趙), Nguỵ (魏)
và Tần (秦) gọi
là Chiến Quốc thất hùng.
Nhóm
thất hùng này lúc nào cũng nhìn nhau lom lom, vì số người muốn thống nhất toàn đất
nước Trung Quốc không phải ít. Nhưng đứng về mặt thực lực mà nói, những nước đủ
điều kiện để thống nhất toàn quốc, chỉ có ba nước có tiềm năng là Tần, Sở và
Tề.
Tới
cuối thời Chiến Quốc, Tần trở thành nước rất mạnh về kinh tế, quân sự so với cả
sáu nước còn lại. Vì thế, chính sách của sáu nước này là nhằm chống lại mối đe
doạ từ nước Tần, với hai trường phái chính:
Tức
là “Hợp tung" thì có nghĩa là mấy nước liên hiệp lại để cùng đánh một
nước. Còn "liên hoành" là làm tan rã sự liên hiệp của đối phương, để
đánh bại từng nước một.
Trong
khi các nước chư hầu tranh giành thế lực tại Trung Nguyên (cách gọi khác chỉ
vùng Hoa Hạ), thì hai sách lược này tất nhiên phải được áp dụng.
Ban
đầu thuyết Hợp tung mang lại một số thành công, dù cuối cùng nó đã tan vỡ. Tần
luôn lợi dụng thuyết Liên hoành để đánh bại từng nước một.
Trong
giai đoạn này, nhiều triết gia và chiến thuật gia đã đi chu du các nước để
khuyên các vị vua cai trị đưa ý kiến của họ vào áp dụng thực tiễn. Những nhà
chiến thuật gia đó rất nổi tiếng về những mưu mẹo và trí tuệ của mình, và được
gọi chung là Tung Hoành gia (縱橫家),
lấy theo tên của hai trường phái chiến lược chính. Cho nên “Tung hoành
gia" hầu hết được trọng dụng, đó cũng là cái thế tất nhiên của thời bấy
giờ.
Số
“Tung hoành gia” nói trên, nếu hiểu theo ý nghĩa hiện giờ thì họ chính là những
nhà ngoại giao. Một khi họ được các nhà chư hầu sử dụng, thì sẽ trở thành khanh
tướng áo trắng, chấp chưởng quốc chính, tác dụng của họ không thể xem thường.
Trong số đó nổi bật nhất là Tô Tần và Trương Nghi – đều là đệ tử của Quỷ Cốc
Tử.
Thuyết Liên
Hoành của Trương Nghi chủ yếu dùng thủ đoạn bày cái lợi trước mắt ra cho các nước chư hầu. Các nước chư hầu đều vì tham cái lợi trước mắt mà
không tính đến hậu quả lâu dài mả bội ước với nhau.
Vào thời cực
thịnh do Tần Huệ Văn vương cai trị (Ông nội của Tần Thủy Hoàng), ông phong cho
Trương Nghi làm Tướng quốc nước Tần áp dụng thuyết
Liên hoành và dùng các chiến thuật "viễn
giao cận công" (giao hảo với nước xa, tấn công nước gần), lấn đất các nước tiếp giáp với mình như
Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, nhưng hòa hiếu với nước Tề ở xa. Chiến thuật này tỏ ra
hiệu quả. Các nước chư hầu khác có đôi lúc liên minh theo thuyết "Hợp
tung" để chống Tần, nhưng vì sự ràng buộc lỏng lẻo và hay bị Tần chia rẽ
nên liên minh nhanh chóng tan rã. Thêm vào đó, nhiều vua chư hầu không thấy
được lợi ích thiết thực của liên minh chống Tần mà bị Tần lung lạc bởi lợi ích
nhỏ trước mắt nên mắc mưu Tần, dần dần trở thành nạn nhân trong quá trình thống
nhất của Tần.
Tần Thủy
Hoàng (tiếng Hán: 秦始皇)(tháng 1 hoặc
tháng 12, 259 TCN – 10 tháng 9, 210 TCN),
tên thật là Doanh Chính(嬴政), là vị vua
thứ 36 của nước Tần ở Trung Quốc từ năm 246 TCN đến 221 TCN trong thời kỳ Chiến Quốc và
trở thành vị Hoàng đế sáng lập ra nhà Tần, vương triều đầu
tiên của Trung Quốc được thống nhất vào năm 221 TCN sau khi tiêu diệt
các nước chư hầu khác. Ông cai trị
cho đến khi qua đời vào năm 210 TCN ở tuổi 49.
2- THẾ
CUỘC HIỆN ĐẠI
Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa được hình thành nhờ vào thỏa thuận tại Hội nghị Yalta 2/1945 giữa các cường quốc Đồng minh
sau Thế chiến II,
nhưng mãi đến 10/1949 Trung Cộng mới nắm được chánh quyền.
Sau đó vị thế nhà nước Trung Quốc được củng cố nhờ trực tiếp tham gia vào cuộc
chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953.
Nhà lãnh đạo
Trung Quốc Mao Trạch Đông không chỉ muốn xây dựng một Trung Quốc cường thịnh mà
còn định hướng cho tham vọng bá chủ toàn cầu của nước này: “Chúng ta phải chinh
phục toàn cầu để từ đó xây dựng nên một quốc gia hùng mạnh”. Mao Trạch Đông cho
rằng các quốc gia và vùng đất gồm Myanmar, Lào, Bắc Ấn Độ, Việt Nam, Nepal,
Bhuttan, Thái Lan, Malaysia, Singapore, các hòn đảo Ryukyu, 300 hòn đảo trên
Biển Đông, biển Hoa Đông, biển Hoàng Hải cùng với Kyrgyzstan, Mông Cổ, Đài
Loan, Nam Kazakhstan, tỉnh Bahdashan và Transbaikalia của Afghanistan và vùng
Viễn Đông cho tới Nam Okhotsk, Nga... là của Trung Quốc.
Với mưu đồ đó, Trung Quốc có 22.000 km đường biên
giới với 14 quốc gia, bao gồm Triều Tiên, Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kyrgyzstan,
Tajikistan, Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Myanmar, Lào và Việt
Nam mà hầu như luôn gây hấn
với tất cả những quốc gia láng giềng của minh.
-
Tiến hành lấn chiếm:
Nga
Khu vực
tranh chấp chủ yếu ở đảo Zhenbao (Nga gọi là Damansky) trên sông Usuri và một
số đảo khác trên sông Amur và sông Argun. Trung Quốc cho rằng những vùng đất
này bị rơi vào tay Nga bởi những hiệp ước thiếu công bằng do nhà Thanh và Sa
hoàng ký vào thế kỷ 19.
Hai nước từng
đụng độ biên giới trong vòng 7 tháng vào năm 1969. Sau đó cùng năm, Trung Quốc
chiến tranh tiếp với Tajikistan vì tranh chấp núi Pamir (giáp Tân Cương), khiến
cho quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô (cũ) rạn nứt.
Sau một vài lần đụng độ
liên tiếp trong khu vực này và vùng Trung Á,
mỗi bên chuẩn bị cho cuộc đối đầu hạt nhân. Tới tháng 8/1969, Giám đốc CIA
Richard Helms thông báo với báo chí rằng, lãnh đạo Xô-viết đã bí mật hỏi ý kiến
các chính phủ nước ngoài về quan điểm của họ đối với một cuộc tấn công phủ đầu
nhằm vào Trung Quốc.
Chỉ khi Thủ tướng Liên
Xô Aleksey Kosygin viếng thăm Bắc Kinh trên
đường trở về từ Hà Nội sau tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thì
một giải pháp chính trị đã làm nguội dần tình hình. Tranh chấp biên giới tạm
ngưng, nhưng chưa thật sự được dàn xếp ổn thoả, và cả hai phía tiếp tục tăng
cường lực lượng quân sự của họ dọc theo biên giới.
Các nước Trung Á
Có đường
biên giới dài 1.700 km, tranh chấp giữa Trung Quốc và Kazakhstan bắt đầu từ
thời Liên Xô, liên quan đến khu vực rộng 680 km2 gần đèo Baimurz và 280 km2 gần
sông Sary-Charndy.
Sau khi đạt
được thỏa thuận với Kyryzstan và Kazakhstan ,
đàm phán biên giới giữa Trung Quốc và Tajikistan
bị đình lại do nội chiến ở Tajikistan .
Cũng như với Kazakhstan , Trung Quốc ký hiệp ước với Tajikistan
vì trông chờ các nước Trung Á này sẽ trấn áp các tổ chức Hồi giáo và chủ nghĩa
ly khai của người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương.
Bất chấp
hiệp ước song phương năm 1963, Trung Quốc vẫn xâm lấn Afghanistan và đang chiếm tỉnh
Bahdakhshan. Do Taliban rất ủng hộ người Duy Ngô Nhĩ ly khai ở Tân Cương nên
Trung Quốc tăng cường đầu tư vào giao thông, thương mại cho kinh tế Afghanistan để chính quyền Kabul đủ sức đối phó với Taliban.
Ấn Độ
Điểm nóng tranh
chấp lãnh thổ giữa 2 nước là Aksai Chin và Arunachal Pradesh. Aksai Chin không
có người ở lẫn tài nguyên nhưng lại có vị trí chiến lược bởi nó nối Tây Tạng
với Tân Cương. Với Arunachal Pradesh, Trung Quốc chiếm giữ 90.000 km2 với
mô tả là vùng “Nam Tây Tạng”.
Ấn Độ từng thua
Trung Quốc trong cuộc chiến biên giới ngắn ngủi vì tranh chấp biên giới dọc
theo dãy Himalaya vào năm 1962.
Trung Quốc từng có tranh chấp với Bhutan và Nepal trong quá khứ với cùng lý lẽ
2 nước này thuộc về Tây Tạng nên cũng thuộc về Trung
Quốc. Giữa Nepal
và Trung Quốc từng xảy ra chiến tranh vào năm 1788-1792 nhưng nay Trung Quốc là
nhà đầu tư chính vào nước này.
Ngược lại, Bhutan
là đồng minh truyền thống của Ấn Độ và không thiết lập quan hệ chính thức với
Trung Quốc. Giữa 2 nước có đường biên giới chung gần 470 km với vùng tranh chấp
vào khoảng 495 km2.
Mông Cổ
Trung Quốc
đòi chủ quyền toàn bộ Mông Cổ với lý lẽ nước này thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ
đời nhà Nguyên (1271-1368). Nhưng thực tế lịch sử thì ngược lại, chính Thành
Cát Tư Hãn (Gengis Khan) và con cháu ông mới chính là những người đánh chiếm
được và cai trị Trung Hoa khi đó 100 năm.
Triều Tiên
Là đồng
minh thân cận nhất của Trung Quốc, Triều Tiên chia sẻ với “đàn anh” 1.416 km
đường biên giới, chủ yếu được phân định bằng 2 con sông Yalu (Áp Lục) và Tumen
(Đồ Môn) theo hiệp ước ký năm 1962.
Tranh chấp
cũng từ 2 con sông này mà ra, bao gồm giới tuyến giữa sông, các hòn đảo trên
sông và đặc biệt là ngọn núi Paektu cao nhất trong vùng – nơi khởi nguồn của 2
con sông. Đáng nói là núi Paektu được cả người Triều Tiên lẫn Hàn Quốc xem là
núi thiêng của dân tộc.
Một nguồn
gốc tranh chấp khác là đường ra biển Nhật Bản. Do đoạn cuối của sông Tumen chảy
giữa Triều Tiên và Nga nên Trung Quốc bị bít lối ra biển Nhật Bản. Tất cả những
tranh chấp chưa bao giờ được chính thức đàm phán vì Triều Tiên quá lệ thuộc vào
Trung Quốc
Việt Nam
Năm 1974 Trung
Quốc ngang nhiên mở trận hải chiến chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam
Tranh chấp biên
giới với Việt Nam
đã âm ỉ hàng chục năm và cao trào là cuộc chiến tự vệ 2/1979 và thông tin về
cuộc chiến này vẫn bị cả hai bên ém nhẹm mọi thông tin.
Năm 1988 Trung
Quốc tiếp tục gây hấn chiếm một số đảo tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam
-
Áp dụng chính sách “Viễn giao cận công”
Dù không có
công lao gì đáng kể trong Thế chiến II, nhưng Trung Quốc đã lợi dụng khối các
nước cộng sản Đông Âu, rồi khối NAM – NAM (Phong trào không liên kết), đặc biệt
là đi đêm với Hoa Kỳ để năm 1971 dành lấy ghế Hội đồng Bảo an LHQ từ tay Trung
Hoa Dân quốc – tức Đài Loan. Từ đó Trung Quốc tận dụng ảnh hưởng quyền phủ
quyết trong các mối quan hệ với các nước khác: Nhật, Ấn Độ, Úc,…
Đối với Mỹ, Bắc
Kinh tập trung hỗ trợ kinh tế cho Mehico để dễ thao túng thị trường Mỹ và các
thị trường sân sau của Mỹ - Mỹ Latin
Đối với Nga,
Trung Quốc liên kết với Ukraine, là một thành viên trong Liên Xô cũ, nhằm tận
dụng các phương tiện, kỹ thuật quân sự của khối Xô viết cũ (có khả năng cạnh
tranh với vũ khí của Mỹ và Phương Tây) đồng thời kềm chân Nga.
Đối với Ấn Độ, Trung Quốc hợp tác toàn diện với Pakistan , Srilanka ,
Bangladesh . Bắc Kinh đã mạnh tay đầu tư cho cảng
Gwadar và xây dựng mạng lưới đường sá, nhà máy điện trong dự án Hành lang Kinh
tế Trung Quốc – Pakistan .
Những cảng biển Trung Quốc xây dựng ở Pakistan và Sri Lanka đều có thể tiếp
nhận tàu chiến, làm dấy lên nghi ngờ rằng Bắc Kinh đang tìm cách tăng cường ảnh
hưởng chiến lược trong khu vực, các hải cảng quân sự trên vành đai Ấn Độ dương để cô lập bao vây
Ấn Độ.
Đối với Việt
Nam, ngay từ khi cuộc chiến tranh Đông Dương còn diễn ra, Trung Quốc đã nuôi
nấng lực lượng Khmer đỏ nhằm chống lại ảnh hưởng của Việt Nam khi giành thắng
lợi trong cuộc chiến. Điều đó đã xẩy ra đúng như dự tính, chiến tranh biên giới
Việt – Campuchia đã diễn ra suốt thập niên 80 thế kỷ 20.
Xây dựng căn
cứ hậu cần tại Djibouti ,
một quốc gia có vị trí chiến lược ở vùng sừng phía đông bắc châu Phi. Djibouti nằm ngay trên eo biển Bab el-Mandeb,
cửa ngõ dẫn tới kênh đào Suez
và là một trong những tuyến đường vận tải hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới. Gần
đó cũng có các căn cứ quân sự của Mỹ, Nhật, Pháp và Italy .
Đây là căn cứ
quân sự hải ngoại đầu tiên của Trung Quốc, được đánh giá là dấu mốc trong tham
vọng mở rộng ảnh hưởng của Bắc Kinh nhằm cạnh tranh với các cường quốc trong
khu vực và trên thế giới, theo Business Insider.
"Đây tất
nhiên là căn cứ hải quân ở nước ngoài đầu tiên của quân đội Trung Quốc… Nó
không phải là một điểm tiếp tế chỉ sử dụng cho mục đích thương mại", Global
Times, tờ báo có quan điểm cứng rắn của Trung Quốc, tuyên bố.
Nhiều quan chức Mỹ và các nước trong khu vực đã bày tỏ nỗi lo
ngại về những lợi thế mà Bắc Kinh được hưởng từ căn cứ mới ở Djibouti cũng như
những gì mà nó có thể đem lại cho tham vọng của Trung Quốc ở nước ngoài.
"Cùng với những chuyến thăm của tàu chiến tới các cảng nước
ngoài, căn cứ ở Djibouti phản ánh ảnh hưởng ngày càng lớn và tầm hoạt động ngày
càng xa của quân đội Trung Quốc", báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ 2017 nhấn
mạnh.
-
Giương đông kích tây
Với vị trí bị
các quốc gia khác bao bọc bịt kín toàn bộ các lối ra Thái Bình Dương, Trung
Quốc bắt buộc phải tìm mọi cách để mở một lối thông thoát tự do ra các đại
dương. Tự giương chiêu bài “Một vành đai một con đường” Trung Quốc muốn tạo một
lộ trình hàng hải cho mình là dùng Biển Đông (South China sea) đi qua các quốc
gia Asean và thông ra Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca (Malaixia) hoặc tạo mới
kênh đào Kra (Thái Lan). Như vậy Biển Đông thật sự chiếm một vai trò quan trọng
trong sách lược phô trương quân sự của Trung Quốc hiện nay.
Để che dấu ý đồ
chính, Bắc Kinh đã dùng chiêu tung hỏa mù “Giương đông kích tây”:
Chống lưng cho
Bắc Triều Tiên liên tiếp phóng thử tên lửa đạn đạo, gây áp lực với Mỹ, Nhật,
Hàn Quốc nhắm đánh lạc hướng chú ý của truyền thông thế giới.
Gây hấn tranh
chấp đảo Seikoku (Điếu Ngư) với Nhật ở Biển Hoa Đông nhằm ngáng chân tiềm lực
quân sự của Nhật (đối thủ chính của Trung Quốc ở châu Á) từ bỏ ý định hỗ trợ
các nước Asean chống Trung Quốc.
-
Giơ “củ cà rốt”
Theo sáng kiến của ông Tập Cận Bình, năm 2013 Trung
Quốc thành lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) nhằm hỗ trợ tài chính cho các quốc gia phát
triển đường bộ, đường sắt, cảng và các công trình hạ tầng khác ở châu Á. Bên
cạnh khía cạnh kinh tế, tổ chức này được xem là lập ra để cạnh tranh với
các tổ chức tài chính đa phương khác vốn bị chi phối bởi các nước phát triển
như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) do đại diện châu Âu và
Mỹ điều hành, hay Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đang có lãnh đạo là người
Nhật Bản.
Các
chuyên gia đánh giá Trung Quốc sẽ sử dụng sức ảnh hưởng kinh tế từ AIIB để lập
một trật tự mới ở châu Á. Ngoài ra, quốc gia này cũng đang kêu gọi một thỏa
thuận thương mại tự do tại châu Á - Thái Bình Dương mà không chịu ảnh hưởng của
Mỹ. Trong những năm đầu hoạt động, AIIB được kỳ vọng cho vay 10-15 tỷ USD mỗi
năm.
Bất chấp việc
AIIB được coi là công cụ thách thức quyền lực của Mỹ, nhiều đồng minh lớn của
Mỹ như Australia, Anh, Đức, Italy, Philippines và Hàn Quốc đều đã gia nhập tổ
chức này. Giữa năm 2015, Việt Nam
cũng đã cùng các nước thành viên sáng lập khác ký điều lệ hoạt động của AIIB.
AIIB
bắt đầu đi vào hoạt động ngày 16/1/2016 và phê duyệt các khoản vay đầu tiên vào
ngày 24/6/2016. AIIB hướng tới cung cấp tài chính nhằm giải quyết những nhu cầu
về cơ sở hạ tầng trên khắp châu Á.
Đây được đánh
giá là một trong những thành công lớn nhất về mặt chính sách đối ngoại của
Trung Quốc.
Siêu
kênh đào cắt ngang vùng Kra Isthmus ở miền nam Thái kết nối Ấn Độ Dương và Thái
Bình Dương sẽ giúp nền kinh tế thế giới bật lên, thay đổi diện mạo Đông Nam Á. Kênh đào Kra Thái Lan
sẽ tiêu tốn 20-30 tỉ USD tùy theo tuyến xây dựng và có thể mất 10 năm để hoàn
thành. Tuy nhiên, nó sẽ giúp tiết kiệm được 1.200km quãng đường di chuyển so
với các lộ trình hàng hải hiện nay - nơi 84.000 tàu thuyền và 30% giao thương
toàn cầu đi qua mỗi năm và giải quyết tình trạng ùn tắc tại eo biển Malacca - tuyến
hàng hải đông đúc nhất thế giới với Singapore là trung tâm trung chuyển
Hiện
dự án của Thái Lan thu hút được sự quan tâm của nhiều quốc gia không chỉ do quy
mô, ý nghĩa chiến lược, mà còn vì khối lượng hạ tầng khổng lồ đi kèm (sân bay,
đường giao thông...).
Bắc Kinh tích cực vận động công trình kênh đào Kra như một phần
của sách lược "Vành đai - con đường", dù hiện tại Trung Quốc đã liên
kết sáng kiến hạ tầng này với hành lang kinh tế phía đông của Thái Lan, bao gồm
một đường sắt cao tốc nối hai nước chạy xuyên qua Lào vừa động thổ vào tháng
12-2017.
Chuyên gia hàng hải Jinsong Zhao, thuộc Đại học Giao thông
Thượng Hải, nhận định kênh đào Kra sẽ đặt Thái Lan ở vị trí trung tâm trong
"cuộc cách mạng lần 3" của vận tải thương mại toàn cầu, khi thương
mại điện tử đòi hỏi sự nhanh chóng trong khâu vận chuyển hàng hóa đến tay người
tiêu dùng.
Vị
chuyên gia cũng "nhắc khéo" nếu đợi thêm 20 năm thì việc tìm kiếm sự
ủng hộ của Trung Quốc sẽ là không dễ.
-
Mục tiêu cuối cùng
Với tất cả tiềm
lực kinh tế, quân sự của mình, Bắc Kinh đã vận dụng mọi thủ thuật sách lược chỉ
nhằm một mục đích duy nhất tạo một lối
thoát cho chính mình thông qua Biển Đông (South China sea). Và các bước
tiến hành sẽ là:
+ Công bố chủ
quyền lãnh hải tại Biển Đông thông qua đường 9 đoạn tại LHQ, nơi Trung Quốc có
chân trong Hội đồng Bảo an LHQ. Và họ đã thực hiện.
+ Kiềm chế Mỹ,
Nhật và các đồng minh khác của Mỹ thông qua chính sách ngoại giao đàm phán đơn
phương với từng quốc gia Asean, kích động Bắc Triều Tiên liên tiếp thử tên lửa
và gia tăng đụng độ tranh chấp với Nhật tại Biển Hoa Đông. Điều này được thể
hiện rõ trong các sự kiện những năm gần đây.
+ Chiếm giữ,
xây dựng hàng loạt đảo quan trọng trên Biển Đông thuộc các quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa (nơi Việt Nam
và một số nước khác cùng tranh chấp – tức là vẫn còn nhập nhằng về tính pháp lý
chủ quyền). Do có chủ đích từ trước nên Bắc Kinh đã thực hiện việc này rất
nhanh chóng, trong khi các nước Asean còn lo cãi vã và ngỡ ngàng trước sự đã
rồi.
+ Tạo dựng hình
thành lộ trình hàng hải mới qua Ấn Độ Dương do Bắc Kinh kiểm soát. Tới đây thì
Trung Quốc coi như đạt được 90% mục tiêu ‘Vành đai – con đường” của mình.
+ Với thị
trường hiện đang nhập khẩu hàng Trung Quốc gần 400 tỷ USD hàng năm, việc tiếp
theo là biến Asean thành sân sau của Trung Quốc thông qua kinh tế, thương mại
và cả quân sự là trong tầm tay của Bắc Kinh. Từ đó Trung Quốc sẽ có đủ năng lực
làm đối trọng với Mỹ và các đồng minh phương Tây.
Như vậy sơ lược
qua các bước thực hiện ý đồ của Bắc Kinh, cho chúng ta hình dung là Trung Quốc
đã triển khai được mức 60% tiến trình. Đây được coi là thành công của ông Tập
Cập Bình – lãnh đạo Trung Quốc hiện nay, và điều này càng củng cố thêm quyền
lực cho ông ta để thực hiện tiếp những ý đồ bành trướng khác.
3-
PHẢN ỨNG CỦA CÁC NƯỚC VÀ NHỮNG RỦI RO
Cho đến lúc này
– 2018, các quốc gia có liên quan đều ngỡ ngàng trước cách thức tiến hành của
Bắc Kinh nên tỏ ra lúng túng trong phương thức ứng phó.
Họ - tất cả các
nước còn lại, đều giống như những đứa trẻ ham “tiền quà” mà bỏ cuộc chơi, chạy
về nhà lấy “đồ” của cha mẹ họ cho người lạ “mượn”. Đến khi sân chơi bị người ta
chiếm mới tá hỏa la làng. Kêu chú bác người lớn ra cũng đâu làm gì được nữa vì
lỡ nhận “tiền quà” rồi.
Thật sự các
nước bây giờ mới lo hợp tác với nhau chống Tàu, giống như phương cách Hợp tung
của 2300 năm trước mà Bắc Kinh đã giăng
ra thế Liên hoành chờ sẵn.
Trật tự thế
giới đã được sắp đặt sau Thế chiến II bằng thỏa thuận tại Hội nghị Yalta – 1945. 50 năm qua
các nước ứng xử với nhau theo trật tự đó và mỗi nước có hoàn cảnh riêng để lo
toan. Các khối liên kết hết hợp rồi cũng tan.
Cuối thập niên
80 thế kỷ 20 khối Cộng sản tan rã, các nước Đông Âu lo tìm bến bờ mới là Liên
minh châu Âu và trở thành những tiểu nhược quốc.
Đến những thập
niên đầu thế kỷ này- thế kỷ 21, Liên minh châu Âu già cỗi có dấu hiệu tan ra và
khởi đầu là hiện tượng Brexit.
Hoa Kỳ là quốc
gia hùng cường nhất sau Thế chiến II, luôn gồng mình đảm bảo cho trật tự thế
giới được thực thi từ thời kỳ chiến tranh lạnh tới nay, đã rêm mình và đang
muốn “quẳng gánh lo đi” mà vui sống.
Tất cả những
chuyển động của thế giới ngày nay đang là cơ hội tốt để Bắc Kinh thực hiện ý đồ
bành trướng đã ấp ủ hơn 50 năm qua.
-
Phản ứng cộng đồng Asean về pháp lý
Các nước muốn
thông qua LHQ để phản đối thì gặp ngay vấn đề là Bắc Kinh có quyền phủ quyết
trong Hội đồng Bảo an LHQ.
Nhóm Asean muốn
đưa qui tắc ứng xử DOC, rồi COC để ràng buộc lẫn nhau. Nhưng họ quên Asean chỉ
là một nhóm nhỏ nhoi nên tiếng nói không có giá trị mấy, hơn nữa bản thân các
nước trong nhóm còn kèn cựa nhau thì làm sao có được ý thống nhất. Trung Quốc
với vai trò là một trong những đối tác của Asean luôn tìm cách trì hoãn ký kết
qui tắc chung này.
Phi luật tân (Philippines )
đã đi nước cờ đúng khi kiện Trung Quốc chiếm đảo trên Biển Đông và giành chiến
thắng chánh nghĩa. Nhưng phán quyết 7/2016
của Tòa Trọng tài quốc tế không có giá trị chấp pháp, hơn nữa mục tiêu
của Bắc Kinh là kiểm soát cả “con đường” chứ không phải là vài điểm đảo. Tất
nhiên điều này (vụ kiện) cũng giúp cảnh báo về hành vi gây hấn của Trung Quốc
trên Biển Đông. Tuy nhiên vị Tổng thống hiện tại của Philippines – Rodrigo Duterte đang
có những hành vi khó hiểu khi tẩy chay Mỹ mà bắt tay với Bắc Kinh.
Việt Nam
thì vẫn dùng chính sách kể khổ nhằm lôi kéo sự thương hại của các nước, kể cả
Trung Quốc nhằm đa phương hóa, quốc tế hóa trong vấn đề Biển Đông.
-
Phản ứng của các quốc gia ngoài khu vực
Nga: Việt Nam là
nước duy nhất có quyền lợi của Nga trong khối Asean về dầu khí ngay tại Biển
Đông. Tuy nhiên Nga đang gặp khó khăn về kinh tế do bị Mỹ và Châu Âu cấm vận,
lại đang cậy nhờ nguồn tài chánh của Trung Quốc nên há miệng mắc quai. Hơn nữa
1988 khi Bắc Kinh dùng vũ lực chiếm đánh quần đảo Trường Sa của Việt Nam , Nga khi đó vẫn là đồng minh của Việt Nam , lại có căn cứ quân sự tại vịnh Cam Ranh,
Việt Nam
mà không hề có một hành động nào để ngăn cản.
EU: Đức, Pháp,
Ý do hầu như không có quyền lợi trong khu vực nên chỉ ủng hộ các nước Asean cầm
chừng.
Anh, Úc vẫn còn
quyền lợi tại Hongkong nên ủng hộ Mỹ trong chính sách kềm chế Bắc Kinh trên
tuyến đường này.
Nhật là quốc
gia nhiệt tình nhất hỗ trợ các nước Asean trong việc chống lại Bắc Kinh. Nhưng
do chính sách phi quân sự sau thất bại trong Thế chiến II nên hạn chế rất nhiều
trong việc cung cấp vũ khí cho quốc gia khác cũng như nâng mức quân đội trong
nước.
Ấn Độ là quốc
gia nhận thức rõ sự nguy hiểm của thế lực quân sự Bắc Kinh đang trỗi dậy với
mưu đồ cô lập Ấn Độ ngay tại Ấn Độ Dương. Nhưng các bước đi của Ấn Độ khá chậm
do lấn cấn khó xử giữa hai mối bang giao Ấn – Nga và Ấn – Hoa Kỳ.
Truyền thông
thế giới vẫn kỳ vọng vào tứ giác huyền thoại Mỹ - Nhật - Ấn – Úc sẽ được hình
thành với chủ trương “Free way” để
đối chọi với chính sách “One route one
way” của Trung Quốc. Đây cũng chỉ là chính sách Hợp tung để đối phó với Bắc
Kinh.
Mọi việc vẫn
tiếp diễn và chúng ta sẽ được chứng kiến các chính sách ứng phó của các cường
quốc trên thế giới với nhau.
(còn tiếp)
Street Talk
(cóp nhặt và
phiếm đàm)









