Tuesday, October 16, 2018

LỊCH SỬ VIỆT CHƯA BAO GIỜ NHẮC ĐẾN - HAY NỖI BUỒN CỦA TỘC VIỆT


LỊCH SỬ VIỆT CHƯA BAO GIỜ NHẮC ĐẾN

- HAY NỖI BUỒN CỦA TỘC VIỆT

CỘI NGUỒN GỐC TÍCH

Ngày nay không ai phủ nhận văn minh Trung Hoa là một trong 3 nền văn minh đầu tiên của nhân loại. Để đạt được vinh danh đó, tại vùng đất Trung nguyên (Trung Hoa ngày nay) những bộ tộc cường thịnh phát triển, tổ chức xã hội dần mang nét văn minh và có ảnh hưởng nhất định đến các vùng đất xung quanh, tới những bộ tộc khác chưa phát triển kịp.

Dân tộc Trung Hoa thời xưa bao gồm ba bộ tộc chủ yếu, họ gọi là Hoa Hạ, Đông Di và Miêu Man. Trải qua các cuộc giao tranh và hòa hoãn không ngừng, Hoàng Đế (cách gọi theo sử tích), ông đã lãnh đạo tộc Hoa Hạ cuối cùng cũng giành được địa vị bá chủ và văn hóa, chính trị  của tộc người này đã được giữ vai trò chủ lưu trên vùng đất Trung nguyên. Hai tộc người Đông Di và Miêu Man không thể tranh giành được quyền lực đành xưng thần, bị buộc phải tiếp thu văn minh từ tộc Hoa Hạ.

Còn theo ý diễn nghĩa về ngữ nghĩa văn học thì cho rằng, thời viễn cổ, văn hóa có được thông qua lịch thời vụ, phong tục cúng lễ, giao tiếp lễ nghĩa đã định ra thứ bậc cao thấp khác nhau giữa các tộc người. Cho nên, vùng đất có văn hóa cao được xưng là Hạ, cũng như vậy, dân tộc có văn hóa cao được xưng là Hoa. Hoa và Hạ hợp lại để chỉ Trung quốc, trung tâm vùng đất quốc gia. Ngược lại, với các vùng đất xung quanh do dân tộc sống ở vùng văn hóa thấp, cho nên mới gọi theo lối ngạo mạn, khinh miệt là Đông Di, Miêu Man (Nam man), Tây Nhung, Bắc Địch.

Về sau Hoa Hạ không ngừng mở rộng bằng nhiều cuộc chiến liên miên và cũng theo đó phát triển, các dân tộc xung quanh dần đều tiếp thu văn hóa Hoa Hạ, đại bộ phận đều gia nhập truyền thống văn hóa Hoa Hạ, Hoa Hạ dần trở thành tượng trưng cho văn minh Trung Hoa.

LỊCH SỬ CÁCH GỌI BÁCH VIỆT VÀ SỰ HÌNH THÀNH QUỐC GIA NAM VIỆT
Lịch sử Trung Hoa trải qua bao phen chinh chiến, dời đổi bể dâu, trên vùng đất Trung nguyên cũng đã hình thành 7 quốc gia (thất hùng) và cùng nhau đi vào thời kỳ Chiến quốc mang tính lịch sử hào hùng truyền tụng tới ngày nay.
Ở phía nam nước Sở (một trong thất hùng) là một vùng đất rộng lớn nhiều dãy núi hiểm trở và giáp biển. Vùng đất đó được gọi là vùng Lĩnh Nam nơi có nhiều bộ tộc nhỏ với nét phong tục riêng, sinh hoạt cuộc sống khác biệt với văn hóa Hoa Hạ, nên được gọi là Bách Việt – trăm tộc Việt
Vậy, giá trị thực tiễn của khái niệm "Bách Việt" là gì?
Chúng ta không tài nào giải thích nổi về sự nối kết giữa các cộng đồng dân tộc trong "Bách Việt" ở toàn vùng Lĩnh Nam, nếu như họ chưa từng có một kinh nghiệm nối kết cộng đồng về chủ quyền cùng một lãnh thổ.
Kinh nghiệm đó - may thay - là có thực trong lịch sử,  và đã từng có!
Sau khi thống nhất 7 nước, Tần Thuỷ Hoàng bắt tay bình định vùng đất Bách Việt ở Lĩnh Nam.
Năm 218 trước Công Nguyên, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư (屠睢) làm chủ tướng, chỉ huy 50 vạn quân đi bình định miền Lĩnh Nam. Khi Đồ Thư chiếm được vùng đất Lĩnh NamTần Thủy Hoàng lập ra 3 quận mới là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (đông bắc Quảng Tây) và Tượng quận (tây nam Quảng Tây). Đồ Thư chiếm được nhiều vùng đất đai nhưng cuối cùng lại bị tử trận.
Tần Thủy Hoàng tiếp tục sai Nhâm Ngao () cùng Triệu Đà đến cai trị vùng Lĩnh Nam vừa chiếm được. Nhâm Ngao làm Quận úy quận Nam Hải.
Quận Nam Hải gồm 4 huyện Bác LaLong XuyênPhiên Ngung và Yết Dương; trong đó huyện Long Xuyên có vị trí quan trọng nhất về địa lý và quân sự, được giao dưới quyền Triệu Đà làm Huyện lệnh.


Triệu Đà (chữ Hán: 趙佗, 257 TCN - 137 TCN), tự Bá Uy (chữ Hán: 伯倭), hiệu Nam Hải lão phu (chữ Hán: 南海老夫), danh hiệu Triệu Vũ đế (chữ Hán: 趙武帝). Triệu Đà vốn là người Trung Hoa (sau này gọi là người Hán), quê ở huyện Chân Định (真定), quận Hằng Sơn (恒山), đời nhà Tần (ngày nay là huyện Chính Định (正定), tỉnh Hà Bắc), miền Bắc Trung Quốc.

Sau khi tới thủ phủ Long Xuyên nhậm chức, Triệu Đà áp dụng chính sách "hoà tập Bách Việt" đồng thời xin Tần Thủy Hoàng di dân 50 vạn người từ Trung nguyên đến vùng này, tăng cường chính sách "Hoa Việt dung hợp" (hòa lẫn người Hoa Hạ và người Lĩnh Nam).
Năm 208 TCN, Quận uý Nam Hải là Nhâm Ngao bị bệnh nặng, trước khi chết ông cho gọi Triệu Đà đang tạm thời làm Huyện lệnh Long Xuyên đến, dặn dò đại ý rằng:
Vùng đất Nam Hải có núi chắn, có biển kề, rất thuận lợi cho việc dựng nước và phòng thủ chống lại quân đội từ Trung Nguyên (tức khu vực trung ương Trung Quốc) đánh xuống,
và đồng thời chính thức bổ nhiệm Triệu Đà nối quyền cai trị quận Nam Hải.
Không lâu, Nhâm Ngao chết, Triệu Đà gửi lệnh đến quan quân các cửa ngõ Lĩnh Nam, canh giữ phòng chống quân đội Tần ở Trung nguyên xâm phạm, và nhân dịp đó, giết và loại bỏ hết những quan lại do nhà Tần bổ nhiệm ở Lĩnh Nam, cho tay chân của mình thay vào những chức vụ đó.
Năm 208 TCN, Triệu Đà đánh thắng nước Âu Lạc của An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải. Theo truyền thuyết, sau khi nghe tin nàng Mỵ Châu bị cha là An Dương Vương giết, Trọng Thủy (con trai Triệu Đà) đã nhảy xuống giếng tự vẫn để trọn tình với vợ là Mỵ Châu. Tới nay cái giếng đó vẫn còn tồn tại và được giữ gìn tại Quảng Đông, Trung Quốc.

Năm 207 TCN, Triệu Đà cất quân đánh chiếm tiếp các quận Quế LâmTượng quận; tự xưng là "Nam Việt Vũ Vương", lập nên nước Nam Việt và cai trị nước Nam Việt suốt giai đoạn 207-137 TCN.
Năm 206 TCNnhà Tần diệt vong.
Năm 196 TCN, sau khi thắng Hạng Vũ, thống nhất Trung Nguyên, Hán Cao Tổ Lưu Bang sai quan đại phu Lục Giả đi sứ đến nước Nam Việt khuyên Triệu Đà quy phục nhà Hán.
Vũ Vương vốn là người kiêu căng, có ý không muốn phục nhà Hán, đến khi Lục Giả sang đến nơi, vào yết kiến Vũ Vương, Vũ Vương ngồi xếp vành tròn, không đứng dậy tiếp. Lục Giả thấy vậy mới nói rằng: "Nhà vua là người nước Tàu, mồ mả và thân thích ở cả châu Chân Định. Nay nhà Hán đã làm vua thiên hạ, sai sứ sang phong vương cho nhà vua, nếu nhà vua kháng cự sứ thần, không làm lễ thụ phong, Hán đế tất là tức giận, hủy hoại mồ mả và giết hại thân thích của nhà vua, rồi đem quân ra đánh thì nhà vua làm thế nào?" Vũ Vương nghe lời ấy vội vàng đứng dậy làm lễ tạ, rồi cười mà nói rằng: "Tiếc thay ta không được khởi nghiệp ở nước Tàu, chứ không thì ta cũng chẳng kém gì Hán Đế!"
Được Lục Giả khuyên, Triệu Đà chịu nhận ấn tước Nam Việt Vương (chúa đất vùng Nam Việt) của Hán Cao Tổ gửi, thần phục nhà Hán, đưa Nam Việt thành một nước chư hầu (nhưng chỉ trên danh nghĩa) của nhà Hán. Từ đó, Nam Việt và nhà Hán trao đổi sứ giả, cống triều và buôn bán. 
Hán Cao Tổ Lưu Bang và Hán Huệ Đế Lưu Doanh chết đi, Lã Hậu nắm quyền, bắt đầu gây sự với Triệu Đà. Lã Hậu ra lệnh cấm vận với nước Nam Việt. Triệu Đà thấy Lã Hậu có thể qua nước Trường Sa mà thôn tính Nam Việt. Thế là Triệu Đà bèn tuyên bố độc lập hoàn toàn khỏi nhà Hán, tự xưng "Nam Việt Vũ Đế" và cất quân đánh nước Trường Sa, chiếm được mấy huyện biên giới của Trường Sa mới chịu thôi.
Lã Hậu bèn sai đại tướng Long Lư hầu là Chu Táo đi đánh Triệu Đà. Quân lính Trung Nguyên không quen khí hậu nóng nực và ẩm thấp miền nam, ùn ùn đổ bệnh, ngay dãy núi Ngũ Lĩnh cũng chưa đi qua nổi. Một năm sau, Lã Hậu chết, mưu đồ đánh Triệu Đà của quân nhà Hán bỏ hẳn.
Lúc đó Triệu Đà dựa vào tiếng tăm tài quân sự của mình lừng lẫy cả vùng Lĩnh Nam, lại nhờ tài hối lộ của cải, làm cả Mân Việt và phía Tây nước Âu Lạc cũ ùn ùn quy thuộc Nam Việt. Lúc ấy nước Nam Việt bành trướng đến mức cực thịnh. Triệu Đà bắt đầu lấy tên uy Hoàng Đế mà ra lệnh ra oai, thanh thế ngang ngửa đối lập với nhà Hán.
Nước Nam Việt bấy giờ, bao gồm từ dãy núi Nam Lĩnh (Hồ Nam, Trung Quốc), phía tây đến Dạ Lang (Vân Nam, Trung Quốc), phía nam đến dãy Hoành Sơn (Hà Tĩnh, Việt Nam), phía đông đến Mân Việt (Phúc Kiến, Trung Quốc). Thủ đô nước Nam Việt lúc ấy là thành Phiên Ngung (thành phố Quảng Châu ngày nay).
Một số tài liệu nghiên cứu ngày nay cho rằng vùng đất miền Bắc Việt Nam bây giờ nằm trong quận Tượng 象郡 của nước Nam Việt lúc đó.
Năm 137 TCN, Nam Việt Vương Triệu Đà qua đời, sống được ước chừng hơn trăm tuổi (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư là 121 tuổi), chôn ở Phiên Ngung (tức thành phố Quảng Châu ngày nay).
Triệu Đà chết đi, con cháu tiếp tục được 4 đời vua Nam Việt, cho đến năm 111 trước Công Nguyên mới bị nhà Hán chiếm.
Như vậy lịch sử đã minh chứng Triệu Vũ Đế - Triệu Đà đã lập nên một quốc gia hùng mạnh cho các dân tộc Bách Việt ở phía nam Trung Hoa – Nước Nam Việt.
Quốc gia đó là quốc gia đầu tiên dám chống Tần ngay khi Tần Thủy Hoàng còn sống – vị hoàng đế tàn ác nhất văn minh Hoa Hạ.
Quốc gia đó cũng là quốc gia đầu tiên dám chống và xâm lấn nhà Hán của Lưu Bang, thật kiêu hãnh.
TIẾP NỐI LỊCH SỬ KIÊU HÙNG NƯỚC NAM VIỆT – HỒN BÁCH VIỆT
Nói cách khác, qua Triệu Vũ Đế - Triệu Đà, khái niệm "Bách Việt" đã tìm được một không gian cùng nhau sinh tồn, cùng dựng xây ý thức chủ quyền trong một quốc gia định danh là NAM VIỆT - tồn tại cả một thế kỷ (từ năm 207 đến năm 111 trước Công nguyên).
Nhờ có CHUNG KÝ ỨC VỀ MỘT THẾ KỶ NAM VIỆT dưới đời Triệu Đà trước đó, Một trăm năm ấy đủ dài để gầy dựng một sự liên kết "máu thịt" trong các nhóm tộc thuộc Bách Việt, chảy ngầm ý thức độc lập và phản kháng với văn minh Hoa Hạ.
Để đến năm 40, theo lời hiệu triệu của Hai Bà Trưng, là đồng loạt bùng lên!
Từ đồng bằng sông Hồng cho đến Lưỡng Quảng - dưới lá cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng - lúc bấy giờ các tộc người Bách Việt đã nhìn nhau trong ý niệm chung một quốc gia!
Đền Hát môn, Hà Nội, VN - Nơi thờ Hai Bà Trưng
Lĩnh Nam rộng lớn 65 thành mà Hai Bà Trưng thu phục, xin chú ý, đó gần như "ăn khớp" với lãnh thổ được xác lập dưới thời nhà Triệu với quốc hiệu NAM VIỆT , bao gồm các quận: Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ, Hợp Phố, Thương Ngô, Uất Lâm, Nam Hải. Phải hiểu rõ rằng, lịch sử đã ghi chép về lãnh thổ LĨNH NAM của Hai Bà Trưng thu phục năm ấy không chỉ có mỗi đồng bằng sông Hồng kéo dài tới Nghệ An, Hà Tĩnh như sách sử hiện đại đang dạy cho con trẻ Việt Nam đâu.
Minh chứng cho điều đó là bài thơ "Nam hoàn chí Ngũ Lĩnh" (về Nam đến rặng núi Ngũ Lĩnh) của Nguyễn Thực (1554 - 1637) người làng Vân Điềm (tên nôm là làng Đóm), nay thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh. Ông đỗ tiến sĩ nhị giáp khoa thi đình đầu tiên của nhà Lê Trung hưng mở tại Thăng Long (năm 1595), bài thơ được làm trong thời gian đi sứ Tàu: 
Ngũ Lĩnh điêu nghiêu trấn Việt thùy
 
Hứa đa cảnh trí chiếm thanh kỳ
Uất thông đông hậu thùy thiên cán
Nùng diễm xuân tiền mai nhất chi
Đồng trụ Trưng vương lưu cựu tích
Thạch nhai Trưng tướng phục tùng từ
Phong cương tự cổ phân trung ngoại
Thậm tiễn thiên công xảo thiết thi
Dịch: 
Núi Ngũ Lĩnh chất ngất trấn ở vùng biên cương đất Việt
 
Biết bao cảnh trí tươi tắn kỳ lạ
Sau mùa đông ngàn cây tùng xanh um
Trước mùa xuân một nhành mai diễm lệ
Cột đồng còn lưu dấu cũ Trưng Vương
Đường đá nghiêng bên ngôi đền Trưng tướng
Chốn biên cương từ xưa phân rõ trong, ngoài
Rất phục thợ trời sao khéo đặt bày.

Tác giả viết bài này sau khi đi sứ về tới dãy núi Ngũ Lĩnh ở Trung Quốc, tức dãy núi làm ranh giới hai nước Sở, Việt thời cổ. Nước Sở là khu vực tỉnh Hồ Nam (phía Nam hồ Động Đình) và nước Việt là khu vực tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay. Về tứ thì đây là bài thơ đẹp một cách hồn hậu. Có thể, khi đó là cuối mùa đông nhưng gió xuân đã thổi nên tùng bách vẫn xanh um, mà một bông hoa mai trắng đã nở chào mùa xuân mới đang tới. 

Song, cần lưu ý tới một chi tiết về lịch sử ở câu thứ 5 - Cột đồng lưu dấu cũ Trưng Vương. Trưng Vương ở đây chính là vua Bà Trưng Trắc của chúng ta, người đã giành lại độc lập cho đất nước và làm vua trong 3 năm, từ năm 40 đến 43.
 
Hơn nữa, trong sách “Đại Việt sử ký tiền biên”, Ngô Thì Nhậm có lời bình: “Cho nên tiếc Ngũ Lĩnh, là tiếc cái sau khi bà Trưng mất”. Ngũ Lĩnh là tên hệ thống các dãy núi chạy qua các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc.
Theo các sử gia thời phong kiến quan niệm: dãy Ngũ Lĩnh chính là ranh giới phía Bắc của nước Việt ta thời nhà Triệu và thời Trưng Vương, ngăn cách với lãnh thổ nhà Hán (Trung Quốc).
Ngợi ca Hai Bà Trưng, sử gia Lê Văn Hưu viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: "Việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương...".
Vậy mà ông lại viết thêm: "Tiếc rằng nối sau họ Triệu (kết thúc năm 111 TCN) cho đến trước họ Ngô (năm 938), trong khoảng hơn nghìn năm thì nam nhi chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là nữ nhi hay sao?".
SG, Dec, 16, 2018
Street Talk
Sưu tầm cóp nhặt


Monday, March 5, 2018

phiếm đàm: THẾ CUỘC TRUNG HOA


Phiếm đàm: THẾ CUỘC TRUNG HOA

Đất nước Trung Quốc (Trung Hoa lục địa) ngày nay lại gây sự chú ý đối với an ninh của thế giới vì sự lớn mạnh về kinh tế, quân sự và những mưu toan bành trướng trên toàn thế giới của họ.
Để hiểu rõ về họ, chúng ta nên nhìn lại lịch sử lập quốc của họ và những bài học về ngoại giao và quân sự trong quá trình hình thành lịch sử đó.

1-    TRUNG HOA XƯA
Vào thời Chiến Quốc, trên vùng đất lưu vực sông Hoàng Hà (còn gọi là vùng Hoa Hạ), trải qua nhiều năm đánh chiếm lẫn nhau giữa những nước chư hầu đã hình thành một số nước khá lớn, chủ yếu là có Tề (), Sở (), Yên (), Hàn(), Triệu (), Nguỵ () và Tần () gọi là Chiến Quốc thất hùng.
Nhóm thất hùng này lúc nào cũng nhìn nhau lom lom, vì số người muốn thống nhất toàn đất nước Trung Quốc không phải ít. Nhưng đứng về mặt thực lực mà nói, những nước đủ điều kiện để thống nhất toàn quốc, chỉ có ba nước có tiềm năng là Tần, Sở và Tề.

Tới cuối thời Chiến Quốc, Tần trở thành nước rất mạnh về kinh tế, quân sự so với cả sáu nước còn lại. Vì thế, chính sách của sáu nước này là nhằm chống lại mối đe doạ từ nước Tần, với hai trường phái chính: 
-         Hợp tung (合縱/ bính âm: hézòng), hay liên kết với nhau để chống sự bành trướng của Tần.
-         Liên hoành (連橫/连横 bính âm: liánhéng), hay liên kết với Tần để dựa vào uy thế của họ để tồn tại.
Tức là “Hợp tung" thì có nghĩa là mấy nước liên hiệp lại để cùng đánh một nước. Còn "liên hoành" là làm tan rã sự liên hiệp của đối phương, để đánh bại từng nước một.
Trong khi các nước chư hầu tranh giành thế lực tại Trung Nguyên (cách gọi khác chỉ vùng Hoa Hạ), thì hai sách lược này tất nhiên phải được áp dụng.
Ban đầu thuyết Hợp tung mang lại một số thành công, dù cuối cùng nó đã tan vỡ. Tần luôn lợi dụng thuyết Liên hoành để đánh bại từng nước một.
Trong giai đoạn này, nhiều triết gia và chiến thuật gia đã đi chu du các nước để khuyên các vị vua cai trị đưa ý kiến của họ vào áp dụng thực tiễn. Những nhà chiến thuật gia đó rất nổi tiếng về những mưu mẹo và trí tuệ của mình, và được gọi chung là Tung Hoành gia (縱橫家), lấy theo tên của hai trường phái chiến lược chính. Cho nên “Tung hoành gia" hầu hết được trọng dụng, đó cũng là cái thế tất nhiên của thời bấy giờ.
Số “Tung hoành gia” nói trên, nếu hiểu theo ý nghĩa hiện giờ thì họ chính là những nhà ngoại giao. Một khi họ được các nhà chư hầu sử dụng, thì sẽ trở thành khanh tướng áo trắng, chấp chưởng quốc chính, tác dụng của họ không thể xem thường. Trong số đó nổi bật nhất là Tô Tần và Trương Nghi – đều là đệ tử của Quỷ Cốc Tử.
Thuyết Liên Hoành của Trương Nghi chủ yếu dùng thủ đoạn bày cái lợi trước mắt ra cho các nước chư hầu. Các nước chư hầu đều vì tham cái lợi trước mắt mà không tính đến hậu quả lâu dài mả bội ước với nhau.

Vào thời cực thịnh do Tần Huệ Văn vương cai trị (Ông nội của Tần Thủy Hoàng), ông phong cho Trương Nghi làm Tướng quốc nước Tần áp dụng thuyết Liên hoành và dùng các chiến thuật "viễn giao cận công" (giao hảo với nước xa, tấn công nước gần), lấn đất các nước tiếp giáp với mình như Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, nhưng hòa hiếu với nước Tề ở xa. Chiến thuật này tỏ ra hiệu quả. Các nước chư hầu khác có đôi lúc liên minh theo thuyết "Hợp tung" để chống Tần, nhưng vì sự ràng buộc lỏng lẻo và hay bị Tần chia rẽ nên liên minh nhanh chóng tan rã. Thêm vào đó, nhiều vua chư hầu không thấy được lợi ích thiết thực của liên minh chống Tần mà bị Tần lung lạc bởi lợi ích nhỏ trước mắt nên mắc mưu Tần, dần dần trở thành nạn nhân trong quá trình thống nhất của Tần. 



Tần Thủy Hoàng (tiếng Hán: 秦始皇)(tháng 1 hoặc tháng 12, 259 TCN – 10 tháng 9210 TCN), tên thật là Doanh Chính(嬴政), là vị vua thứ 36 của nước Tần ở Trung Quốc từ năm 246 TCN đến 221 TCN trong thời kỳ Chiến Quốc và trở thành vị Hoàng đế sáng lập ra nhà Tần, vương triều đầu tiên của Trung Quốc được thống nhất vào năm 221 TCN sau khi tiêu diệt các nước chư hầu khác. Ông cai trị cho đến khi qua đời vào năm 210 TCN ở tuổi 49.

2-    THẾ CUỘC HIỆN ĐẠI
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được hình thành nhờ vào thỏa thuận tại Hội nghị Yalta 2/1945 giữa các cường quốc Đồng minh sau Thế chiến II, 

nhưng mãi đến 10/1949 Trung Cộng mới nắm được chánh quyền. Sau đó vị thế nhà nước Trung Quốc được củng cố nhờ trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953.

Nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông không chỉ muốn xây dựng một Trung Quốc cường thịnh mà còn định hướng cho tham vọng bá chủ toàn cầu của nước này: “Chúng ta phải chinh phục toàn cầu để từ đó xây dựng nên một quốc gia hùng mạnh”. Mao Trạch Đông cho rằng các quốc gia và vùng đất gồm Myanmar, Lào, Bắc Ấn Độ, Việt Nam, Nepal, Bhuttan, Thái Lan, Malaysia, Singapore, các hòn đảo Ryukyu, 300 hòn đảo trên Biển Đông, biển Hoa Đông, biển Hoàng Hải cùng với Kyrgyzstan, Mông Cổ, Đài Loan, Nam Kazakhstan, tỉnh Bahdashan và Transbaikalia của Afghanistan và vùng Viễn Đông cho tới Nam Okhotsk, Nga... là của Trung Quốc.
Với mưu đồ đó, Trung Quốc có 22.000 km đường biên giới với 14 quốc gia, bao gồm Triều Tiên, Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Myanmar, Lào và Việt Nam mà hầu như luôn gây hấn với tất cả những quốc gia láng giềng của minh.
-         Tiến hành lấn chiếm:
Nga
Khu vực tranh chấp chủ yếu ở đảo Zhenbao (Nga gọi là Damansky) trên sông Usuri và một số đảo khác trên sông Amur và sông Argun. Trung Quốc cho rằng những vùng đất này bị rơi vào tay Nga bởi những hiệp ước thiếu công bằng do nhà Thanh và Sa hoàng ký vào thế kỷ 19.

Hai nước từng đụng độ biên giới trong vòng 7 tháng vào năm 1969. Sau đó cùng năm, Trung Quốc chiến tranh tiếp với Tajikistan vì tranh chấp núi Pamir (giáp Tân Cương), khiến cho quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô (cũ) rạn nứt. 
Sau một vài lần đụng độ liên tiếp trong khu vực này và vùng Trung Á, mỗi bên chuẩn bị cho cuộc đối đầu hạt nhân. Tới tháng 8/1969, Giám đốc CIA Richard Helms thông báo với báo chí rằng, lãnh đạo Xô-viết đã bí mật hỏi ý kiến các chính phủ nước ngoài về quan điểm của họ đối với một cuộc tấn công phủ đầu nhằm vào Trung Quốc.
Chỉ khi Thủ tướng Liên Xô Aleksey Kosygin viếng thăm Bắc Kinh trên đường trở về từ Hà Nội sau tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,  thì một giải pháp chính trị đã làm nguội dần tình hình. Tranh chấp biên giới tạm ngưng, nhưng chưa thật sự được dàn xếp ổn thoả, và cả hai phía tiếp tục tăng cường lực lượng quân sự của họ dọc theo biên giới.
Các nước Trung Á
Có đường biên giới dài 1.700 km, tranh chấp giữa Trung Quốc và Kazakhstan bắt đầu từ thời Liên Xô, liên quan đến khu vực rộng 680 km2 gần đèo Baimurz và 280 km2 gần sông Sary-Charndy.
Sau khi đạt được thỏa thuận với Kyryzstan và Kazakhstan, đàm phán biên giới giữa Trung Quốc và Tajikistan bị đình lại do nội chiến ở Tajikistan.
Cũng như với Kazakhstan, Trung Quốc ký hiệp ước với Tajikistan vì trông chờ các nước Trung Á này sẽ trấn áp các tổ chức Hồi giáo và chủ nghĩa ly khai của người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương.
Afghanistan
Bất chấp hiệp ước song phương năm 1963, Trung Quốc vẫn xâm lấn Afghanistan và đang chiếm tỉnh Bahdakhshan. Do Taliban rất ủng hộ người Duy Ngô Nhĩ ly khai ở Tân Cương nên Trung Quốc tăng cường đầu tư vào giao thông, thương mại cho kinh tế Afghanistan để chính quyền Kabul đủ sức đối phó với Taliban.
Ấn Độ
Điểm nóng tranh chấp lãnh thổ giữa 2 nước là Aksai Chin và Arunachal Pradesh. Aksai Chin không có người ở lẫn tài nguyên nhưng lại có vị trí chiến lược bởi nó nối Tây Tạng với Tân Cương. Với Arunachal Pradesh, Trung Quốc chiếm giữ 90.000 km2 với mô tả là vùng “Nam Tây Tạng”.
Ấn Độ từng thua Trung Quốc trong cuộc chiến biên giới ngắn ngủi vì tranh chấp biên giới dọc theo dãy Himalaya vào năm 1962.


BhutanNepal
Trung Quốc từng có tranh chấp với BhutanNepal trong quá khứ với cùng lý lẽ 2 nước này thuộc về Tây Tạng nên cũng thuộc về Trung Quốc. Giữa Nepal và Trung Quốc từng xảy ra chiến tranh vào năm 1788-1792 nhưng nay Trung Quốc là nhà đầu tư chính vào nước này.
Ngược lại, Bhutan là đồng minh truyền thống của Ấn Độ và không thiết lập quan hệ chính thức với Trung Quốc. Giữa 2 nước có đường biên giới chung gần 470 km với vùng tranh chấp vào khoảng 495 km2.


Mông Cổ
Trung Quốc đòi chủ quyền toàn bộ Mông Cổ với lý lẽ nước này thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ đời nhà Nguyên (1271-1368). Nhưng thực tế lịch sử thì ngược lại, chính Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan) và con cháu ông mới chính là những người đánh chiếm được và cai trị Trung Hoa khi đó 100 năm.
Triều Tiên
Là đồng minh thân cận nhất của Trung Quốc, Triều Tiên chia sẻ với “đàn anh” 1.416 km đường biên giới, chủ yếu được phân định bằng 2 con sông Yalu (Áp Lục) và Tumen (Đồ Môn) theo hiệp ước ký năm 1962.
Tranh chấp cũng từ 2 con sông này mà ra, bao gồm giới tuyến giữa sông, các hòn đảo trên sông và đặc biệt là ngọn núi Paektu cao nhất trong vùng – nơi khởi nguồn của 2 con sông. Đáng nói là núi Paektu được cả người Triều Tiên lẫn Hàn Quốc xem là núi thiêng của dân tộc.
Một nguồn gốc tranh chấp khác là đường ra biển Nhật Bản. Do đoạn cuối của sông Tumen chảy giữa Triều Tiên và Nga nên Trung Quốc bị bít lối ra biển Nhật Bản. Tất cả những tranh chấp chưa bao giờ được chính thức đàm phán vì Triều Tiên quá lệ thuộc vào Trung Quốc
Việt Nam
Năm 1974 Trung Quốc ngang nhiên mở trận hải chiến chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam

Tranh chấp biên giới với Việt Nam đã âm ỉ hàng chục năm và cao trào là cuộc chiến tự vệ 2/1979 và thông tin về cuộc chiến này vẫn bị cả hai bên ém nhẹm mọi thông tin.
Năm 1988 Trung Quốc tiếp tục gây hấn chiếm một số đảo tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam

-         Áp dụng chính sách “Viễn giao cận công”

Dù không có công lao gì đáng kể trong Thế chiến II, nhưng Trung Quốc đã lợi dụng khối các nước cộng sản Đông Âu, rồi khối NAM – NAM (Phong trào không liên kết), đặc biệt là đi đêm với Hoa Kỳ để năm 1971 dành lấy ghế Hội đồng Bảo an LHQ từ tay Trung Hoa Dân quốc – tức Đài Loan. Từ đó Trung Quốc tận dụng ảnh hưởng quyền phủ quyết trong các mối quan hệ với các nước khác: Nhật, Ấn Độ, Úc,…
Đối với Mỹ, Bắc Kinh tập trung hỗ trợ kinh tế cho Mehico để dễ thao túng thị trường Mỹ và các thị trường sân sau của Mỹ - Mỹ Latin

Đối với Nga, Trung Quốc liên kết với Ukraine, là một thành viên trong Liên Xô cũ, nhằm tận dụng các phương tiện, kỹ thuật quân sự của khối Xô viết cũ (có khả năng cạnh tranh với vũ khí của Mỹ và Phương Tây) đồng thời kềm chân Nga.

Đối với Ấn Độ, Trung Quốc hợp tác toàn diện với Pakistan, Srilanka, Bangladesh. Bắc Kinh đã mạnh tay đầu tư cho cảng Gwadar và xây dựng mạng lưới đường sá, nhà máy điện trong dự án Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Pakistan. Những cảng biển Trung Quốc xây dựng ở Pakistan và Sri Lanka đều có thể tiếp nhận tàu chiến, làm dấy lên nghi ngờ rằng Bắc Kinh đang tìm cách tăng cường ảnh hưởng chiến lược trong khu vực, các hải cảng quân sự trên vành đai Ấn Độ dương để cô lập bao vây Ấn Độ.

Đối với Việt Nam, ngay từ khi cuộc chiến tranh Đông Dương còn diễn ra, Trung Quốc đã nuôi nấng lực lượng Khmer đỏ nhằm chống lại ảnh hưởng của Việt Nam khi giành thắng lợi trong cuộc chiến. Điều đó đã xẩy ra đúng như dự tính, chiến tranh biên giới Việt – Campuchia đã diễn ra suốt thập niên 80 thế kỷ 20.

Xây dựng căn cứ hậu cần tại Djibouti, một quốc gia có vị trí chiến lược ở vùng sừng phía đông bắc châu Phi. Djibouti nằm ngay trên eo biển Bab el-Mandeb, cửa ngõ dẫn tới kênh đào Suez và là một trong những tuyến đường vận tải hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới. Gần đó cũng có các căn cứ quân sự của Mỹ, Nhật, Pháp và Italy.


Đây là căn cứ quân sự hải ngoại đầu tiên của Trung Quốc, được đánh giá là dấu mốc trong tham vọng mở rộng ảnh hưởng của Bắc Kinh nhằm cạnh tranh với các cường quốc trong khu vực và trên thế giới, theo Business Insider.
"Đây tất nhiên là căn cứ hải quân ở nước ngoài đầu tiên của quân đội Trung Quốc… Nó không phải là một điểm tiếp tế chỉ sử dụng cho mục đích thương mại", Global Times, tờ báo có quan điểm cứng rắn của Trung Quốc, tuyên bố.
Nhiều quan chức Mỹ và các nước trong khu vực đã bày tỏ nỗi lo ngại về những lợi thế mà Bắc Kinh được hưởng từ căn cứ mới ở Djibouti cũng như những gì mà nó có thể đem lại cho tham vọng của Trung Quốc ở nước ngoài.
"Cùng với những chuyến thăm của tàu chiến tới các cảng nước ngoài, căn cứ ở Djibouti phản ánh ảnh hưởng ngày càng lớn và tầm hoạt động ngày càng xa của quân đội Trung Quốc", báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ 2017 nhấn mạnh.
-         Giương đông kích tây
Với vị trí bị các quốc gia khác bao bọc bịt kín toàn bộ các lối ra Thái Bình Dương, Trung Quốc bắt buộc phải tìm mọi cách để mở một lối thông thoát tự do ra các đại dương. Tự giương chiêu bài “Một vành đai một con đường” Trung Quốc muốn tạo một lộ trình hàng hải cho mình là dùng Biển Đông (South China sea) đi qua các quốc gia Asean và thông ra Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca (Malaixia) hoặc tạo mới kênh đào Kra (Thái Lan). Như vậy Biển Đông thật sự chiếm một vai trò quan trọng trong sách lược phô trương quân sự của Trung Quốc hiện nay.
Để che dấu ý đồ chính, Bắc Kinh đã dùng chiêu tung hỏa mù “Giương đông kích tây”:
Chống lưng cho Bắc Triều Tiên liên tiếp phóng thử tên lửa đạn đạo, gây áp lực với Mỹ, Nhật, Hàn Quốc nhắm đánh lạc hướng chú ý của truyền thông thế giới.
Gây hấn tranh chấp đảo Seikoku (Điếu Ngư) với Nhật ở Biển Hoa Đông nhằm ngáng chân tiềm lực quân sự của Nhật (đối thủ chính của Trung Quốc ở châu Á) từ bỏ ý định hỗ trợ các nước Asean chống Trung Quốc.

-         Giơ “củ cà rốt”

Theo sáng kiến của ông Tập Cận Bình, năm 2013 Trung Quốc thành lập  Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) nhằm hỗ trợ tài chính cho các quốc gia phát triển đường bộ, đường sắt, cảng và các công trình hạ tầng khác ở châu Á. Bên cạnh khía cạnh kinh tế, tổ chức này được xem là lập ra để cạnh tranh với các tổ chức tài chính đa phương khác vốn bị chi phối bởi các nước phát triển như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) do đại diện châu Âu và Mỹ điều hành, hay Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đang có lãnh đạo là người Nhật Bản.

Các chuyên gia đánh giá Trung Quốc sẽ sử dụng sức ảnh hưởng kinh tế từ AIIB để lập một trật tự mới ở châu Á. Ngoài ra, quốc gia này cũng đang kêu gọi một thỏa thuận thương mại tự do tại châu Á - Thái Bình Dương mà không chịu ảnh hưởng của Mỹ. Trong những năm đầu hoạt động, AIIB được kỳ vọng cho vay 10-15 tỷ USD mỗi năm.
Bất chấp việc AIIB được coi là công cụ thách thức quyền lực của Mỹ, nhiều đồng minh lớn của Mỹ như Australia, Anh, Đức, Italy, Philippines và Hàn Quốc đều đã gia nhập tổ chức này. Giữa năm 2015, Việt Nam cũng đã cùng các nước thành viên sáng lập khác ký điều lệ hoạt động của AIIB.
AIIB bắt đầu đi vào hoạt động ngày 16/1/2016 và phê duyệt các khoản vay đầu tiên vào ngày 24/6/2016. AIIB hướng tới cung cấp tài chính nhằm giải quyết những nhu cầu về cơ sở hạ tầng trên khắp châu Á.
Đây được đánh giá là một trong những thành công lớn nhất về mặt chính sách đối ngoại của Trung Quốc.

Siêu kênh đào cắt ngang vùng Kra Isthmus ở miền nam Thái kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương sẽ giúp nền kinh tế thế giới bật lên, thay đổi diện mạo Đông Nam Á. Kênh đào Kra Thái Lan sẽ tiêu tốn 20-30 tỉ USD tùy theo tuyến xây dựng và có thể mất 10 năm để hoàn thành. Tuy nhiên, nó sẽ giúp tiết kiệm được 1.200km quãng đường di chuyển so với các lộ trình hàng hải hiện nay - nơi 84.000 tàu thuyền và 30% giao thương toàn cầu đi qua mỗi năm và giải quyết tình trạng ùn tắc tại eo biển Malacca - tuyến hàng hải đông đúc nhất thế giới với Singapore là trung tâm trung chuyển


Hiện dự án của Thái Lan thu hút được sự quan tâm của nhiều quốc gia không chỉ do quy mô, ý nghĩa chiến lược, mà còn vì khối lượng hạ tầng khổng lồ đi kèm (sân bay, đường giao thông...). 
Bắc Kinh tích cực vận động công trình kênh đào Kra như một phần của sách lược "Vành đai - con đường", dù hiện tại Trung Quốc đã liên kết sáng kiến hạ tầng này với hành lang kinh tế phía đông của Thái Lan, bao gồm một đường sắt cao tốc nối hai nước chạy xuyên qua Lào vừa động thổ vào tháng 12-2017.
Chuyên gia hàng hải Jinsong Zhao, thuộc Đại học Giao thông Thượng Hải, nhận định kênh đào Kra sẽ đặt Thái Lan ở vị trí trung tâm trong "cuộc cách mạng lần 3" của vận tải thương mại toàn cầu, khi thương mại điện tử đòi hỏi sự nhanh chóng trong khâu vận chuyển hàng hóa đến tay người tiêu dùng. 
Vị chuyên gia cũng "nhắc khéo" nếu đợi thêm 20 năm thì việc tìm kiếm sự ủng hộ của Trung Quốc sẽ là không dễ.

-         Mục tiêu cuối cùng
Với tất cả tiềm lực kinh tế, quân sự của mình, Bắc Kinh đã vận dụng mọi thủ thuật sách lược chỉ nhằm một mục đích duy nhất tạo một lối thoát cho chính mình thông qua Biển Đông (South China sea). Và các bước tiến hành sẽ là:
+ Công bố chủ quyền lãnh hải tại Biển Đông thông qua đường 9 đoạn tại LHQ, nơi Trung Quốc có chân trong Hội đồng Bảo an LHQ. Và họ đã thực hiện.
+ Kiềm chế Mỹ, Nhật và các đồng minh khác của Mỹ thông qua chính sách ngoại giao đàm phán đơn phương với từng quốc gia Asean, kích động Bắc Triều Tiên liên tiếp thử tên lửa và gia tăng đụng độ tranh chấp với Nhật tại Biển Hoa Đông. Điều này được thể hiện rõ trong các sự kiện những năm gần đây.
+ Chiếm giữ, xây dựng hàng loạt đảo quan trọng trên Biển Đông thuộc các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (nơi Việt Nam và một số nước khác cùng tranh chấp – tức là vẫn còn nhập nhằng về tính pháp lý chủ quyền). Do có chủ đích từ trước nên Bắc Kinh đã thực hiện việc này rất nhanh chóng, trong khi các nước Asean còn lo cãi vã và ngỡ ngàng trước sự đã rồi.
+ Tạo dựng hình thành lộ trình hàng hải mới qua Ấn Độ Dương do Bắc Kinh kiểm soát. Tới đây thì Trung Quốc coi như đạt được 90% mục tiêu ‘Vành đai – con đường” của mình.
+ Với thị trường hiện đang nhập khẩu hàng Trung Quốc gần 400 tỷ USD hàng năm, việc tiếp theo là biến Asean thành sân sau của Trung Quốc thông qua kinh tế, thương mại và cả quân sự là trong tầm tay của Bắc Kinh. Từ đó Trung Quốc sẽ có đủ năng lực làm đối trọng với Mỹ và các đồng minh phương Tây.

Như vậy sơ lược qua các bước thực hiện ý đồ của Bắc Kinh, cho chúng ta hình dung là Trung Quốc đã triển khai được mức 60% tiến trình. Đây được coi là thành công của ông Tập Cập Bình – lãnh đạo Trung Quốc hiện nay, và điều này càng củng cố thêm quyền lực cho ông ta để thực hiện tiếp những ý đồ bành trướng khác.

3-    PHẢN ỨNG CỦA CÁC NƯỚC VÀ NHỮNG RỦI RO

Cho đến lúc này – 2018, các quốc gia có liên quan đều ngỡ ngàng trước cách thức tiến hành của Bắc Kinh nên tỏ ra lúng túng trong phương thức ứng phó.
Họ - tất cả các nước còn lại, đều giống như những đứa trẻ ham “tiền quà” mà bỏ cuộc chơi, chạy về nhà lấy “đồ” của cha mẹ họ cho người lạ “mượn”. Đến khi sân chơi bị người ta chiếm mới tá hỏa la làng. Kêu chú bác người lớn ra cũng đâu làm gì được nữa vì lỡ nhận “tiền quà” rồi.
Thật sự các nước bây giờ mới lo hợp tác với nhau chống Tàu, giống như phương cách Hợp tung của 2300 năm trước mà Bắc Kinh  đã giăng ra thế Liên hoành chờ sẵn.
Trật tự thế giới đã được sắp đặt sau Thế chiến II bằng thỏa thuận tại Hội nghị Yalta – 1945. 50 năm qua các nước ứng xử với nhau theo trật tự đó và mỗi nước có hoàn cảnh riêng để lo toan. Các khối liên kết hết hợp rồi cũng tan.
Cuối thập niên 80 thế kỷ 20 khối Cộng sản tan rã, các nước Đông Âu lo tìm bến bờ mới là Liên minh châu Âu và trở thành những tiểu nhược quốc.
Đến những thập niên đầu thế kỷ này- thế kỷ 21, Liên minh châu Âu già cỗi có dấu hiệu tan ra và khởi đầu là hiện tượng Brexit.
Hoa Kỳ là quốc gia hùng cường nhất sau Thế chiến II, luôn gồng mình đảm bảo cho trật tự thế giới được thực thi từ thời kỳ chiến tranh lạnh tới nay, đã rêm mình và đang muốn “quẳng gánh lo đi” mà vui sống.
Tất cả những chuyển động của thế giới ngày nay đang là cơ hội tốt để Bắc Kinh thực hiện ý đồ bành trướng đã ấp ủ hơn 50 năm qua.

-         Phản ứng cộng đồng Asean về pháp lý
Các nước muốn thông qua LHQ để phản đối thì gặp ngay vấn đề là Bắc Kinh có quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an LHQ.
Nhóm Asean muốn đưa qui tắc ứng xử DOC, rồi COC để ràng buộc lẫn nhau. Nhưng họ quên Asean chỉ là một nhóm nhỏ nhoi nên tiếng nói không có giá trị mấy, hơn nữa bản thân các nước trong nhóm còn kèn cựa nhau thì làm sao có được ý thống nhất. Trung Quốc với vai trò là một trong những đối tác của Asean luôn tìm cách trì hoãn ký kết qui tắc chung này.
Phi luật tân (Philippines) đã đi nước cờ đúng khi kiện Trung Quốc chiếm đảo trên Biển Đông và giành chiến thắng chánh nghĩa. Nhưng phán quyết 7/2016  của Tòa Trọng tài quốc tế không có giá trị chấp pháp, hơn nữa mục tiêu của Bắc Kinh là kiểm soát cả “con đường” chứ không phải là vài điểm đảo. Tất nhiên điều này (vụ kiện) cũng giúp cảnh báo về hành vi gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông. Tuy nhiên vị Tổng thống hiện tại của Philippines – Rodrigo Duterte đang có những hành vi khó hiểu khi tẩy chay Mỹ mà bắt tay với Bắc Kinh.
Việt Nam thì vẫn dùng chính sách kể khổ nhằm lôi kéo sự thương hại của các nước, kể cả Trung Quốc nhằm đa phương hóa, quốc tế hóa trong vấn đề Biển Đông.

-         Phản ứng của các quốc gia ngoài khu vực
Nga: Việt Nam là nước duy nhất có quyền lợi của Nga trong khối Asean về dầu khí ngay tại Biển Đông. Tuy nhiên Nga đang gặp khó khăn về kinh tế do bị Mỹ và Châu Âu cấm vận, lại đang cậy nhờ nguồn tài chánh của Trung Quốc nên há miệng mắc quai. Hơn nữa 1988 khi Bắc Kinh dùng vũ lực chiếm đánh quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Nga khi đó vẫn là đồng minh của Việt Nam, lại có căn cứ quân sự tại vịnh Cam Ranh, Việt Nam mà không hề có một hành động nào để ngăn cản.
EU: Đức, Pháp, Ý do hầu như không có quyền lợi trong khu vực nên chỉ ủng hộ các nước Asean cầm chừng.
Anh, Úc vẫn còn quyền lợi tại Hongkong nên ủng hộ Mỹ trong chính sách kềm chế Bắc Kinh trên tuyến đường này.
Nhật là quốc gia nhiệt tình nhất hỗ trợ các nước Asean trong việc chống lại Bắc Kinh. Nhưng do chính sách phi quân sự sau thất bại trong Thế chiến II nên hạn chế rất nhiều trong việc cung cấp vũ khí cho quốc gia khác cũng như nâng mức quân đội trong nước.


Ấn Độ là quốc gia nhận thức rõ sự nguy hiểm của thế lực quân sự Bắc Kinh đang trỗi dậy với mưu đồ cô lập Ấn Độ ngay tại Ấn Độ Dương. Nhưng các bước đi của Ấn Độ khá chậm do lấn cấn khó xử giữa hai mối bang giao Ấn – Nga và Ấn – Hoa Kỳ.
Truyền thông thế giới vẫn kỳ vọng vào tứ giác huyền thoại Mỹ - Nhật - Ấn – Úc sẽ được hình thành với chủ trương “Free way” để đối chọi với chính sách “One route one way” của Trung Quốc. Đây cũng chỉ là chính sách Hợp tung để đối phó với Bắc Kinh.
Mọi việc vẫn tiếp diễn và chúng ta sẽ được chứng kiến các chính sách ứng phó của các cường quốc trên thế giới với nhau.
(còn tiếp)

Saigon, March 05, 2018
Street Talk
(cóp nhặt và phiếm đàm)