Friday, September 11, 2015
HỢP TÁC KD WIN – WIN 50:50
Lô đất thổ vườn diện tích: 70m x
10m. Giá bán: 3 triệu đ/m2
Vị trí: Ấp 7, xã Lê Minh Xuân,
huyện Bình Chánh, TPHCM
-
Mặt tiền bờ kinh C, đường nhựa 8m
-
Khu vực các khu CN: Tân Tạo, Lê Minh Xuân, Vĩnh Lộc
B, Đức Hòa
Liên
hệ chính chủ: Ông Ba – 0903969996
Hợp
tác XDKD nhà trọ công nhân – 36 phòng, có thể mở rộng thêm
Đơn
giá: 1 triệu đ/tháng/phòng 3mx3m, gác lửng, toilet, đồng hồ điện riêng.
Cần hợp tác lâu dài với người có
tâm huyết: đầu tư hưu trí, đầu tư thân nhân VN
-
Đầu tư vốn 500
triệu đồng: XD cơ sở, điện, nước, GP tiêu chuẩn trọ mẫu
-
Hàng tháng: Thu = 36.000.000đ – chi phí: điện, hành
chánh, lãi suất NH
-
Phân chia lợi nhuận: 50 : 50
-
Lợi nhuận sẽ cao
hơn gởi NH, thậm chí hơn cho vay nóng 3%/tháng
-
Dòng tiền thu
đều hàng tháng. Camera
giám sát, quản lý thu chi.
-
An tâm nhanh thu hồi nguồn vốn, không rủi ro, không mất giá.
Liên hệ chính chủ: Ông Ba –
0903969996
Thursday, August 27, 2015
TUYẾN ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM VỚI TỔNG THỐNG PHÁP THỨ 14
TUYẾN
ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM
VỚI TỔNG THỐNG PHÁP THỨ 14
Dẫu biết nỗi uất hận của các dân tộc bị thuộc địa là rất lớn
đối với chủ nghĩa thực dân, nhưng không thể phủ nhận các chính quốc cũng đã
mang khoa học kỹ thuật tiên tiến của nhân loại đến các xứ thuộc địa. Tất nhiên
là họ đã dùng các kỹ thuật tiến bộ đó để khai thác tài nguyên và bóc lột người
dân thuộc địa. Và theo xu thế thời đại, các nước thuộc địa cũng dần trở nên độc
lập và người bản địa cũng tận dụng những cơ sở vật chất của thực dân để lại mà
khai thác tài nguyên và “khoan sức dân” để tăng trưởng kinh tế.
Việt Nam cũng là một trong những nước đã tự mình giành được
độc lập 1945.Việt Nam đã được thừa hưởng từ chủ nghĩa thực dân như chữ viết hệ
la-tinh, các mỏ khai thác khoáng, các nhà máy điện, hệ thống giao thông và đặc
biệt là tuyến đường sắt Băc – Nam. Người có công lớn trong các công trình này
là người sau này trở thành Tổng thống thứ 14 của nước Pháp.
![]() |
| Joseph Athanase Gaston Paul Doumer (1857-1932) |
![]() |
| Cầu Doumer - nay là cầu Long Biên, Hà Nội, Việt Nam |
Ông Joseph
Athanase Gaston Paul Doumer (1857-1932), Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897-1902, sau là Tổng
thống Pháp thứ 14 từ 1931-1932. Trong thời kỳ làm Toàn quyền Đông Dương, ông đã
cho xây dựng rất nhiều đường xá, cầu cống, các tuyến đường sắt, đặc biệt là
tuyến đường sắt nối Bắc – Nam .
Các công trình đó vẫn được người dân Việt Nam sử dụng cho tới ngày nay.
·
Năm 1899 - 1936,
Pháp xây dựng xong tuyến Đường sắt Bắc Nam
![]() |
| Khánh thành tuyến đường sắt Sài Gòn - Chợ Lớn 1881 |
![]() |
| Ga Sài Gòn - 1920 |
![]() |
| Ga Hà Nội xưa - ga Hàng Cỏ |
Ngày nay chánh phủ Việt Nam vẫn đang sử
dụng và cứ loay hoay trong việc nâng cấp hệ thống đường sắt mà người Pháp đã để
lại hơn 100 năm nay. Điều đó cho thấy để điều hành một quốc sách phát triển một
lãnh vực không phải là đơn giản. Chính vì lẽ đó mà chúng ta càng hiểu thêm rằng
công lao đưa ra quyết sách với quyết tâm thực hiện bằng được tuyến đường sắt
của ông Paul Doumer vào thời điểm đó giá trị như thế nào đối với đất nước Việt Nam .
![]() |
| Thanh niên Miền Bắc tòng quân |
![]() |
| Bộ đội sửa chữa đường sắt |
Điều chúng ta, những người thụ
hưởng tuyến đường sắt đó cứ day dứt rằng Việt Nam có nên có một bức tượng nhỏ ghi
nhận công lao của ông Paul Doumer. Sẽ rất khó cho chánh phủ hiểu được rằng “truyền
thống cách mạng” rất vẻ vang nhưng dù sao vẫn chỉ phản ánh một giai đoạn lịch
sử. Còn nguồn gốc hình thành nên chuỗi lịch sử và nó còn tiếp diễn mãi về sau
là điều cần thiết phải ghi dấu.
Chính lúc này là thời điểm tốt để
ghi dấu đó vì chánh phủ Việt Nam
đang nỗ lực đầu tư nâng cấp toàn tuyến đường sắt Bắc – Nam . Và địa
điểm có lẽ thích hợp nhất là ga Đà Nẵng mới, vì trong quá trình duyệt quyết
sách xây dựng tuyến đường sắt này ông Paul Doumer đã có kỷ niệm sâu sắc về
chuyến đi khảo sát gian khổ đến Đà Nẵng trong cuốn hồi ký L’Indochine Française (Souvenirs) kể lại đoạn
đường 800 km mà ông cùng người tùy tùng, thiếu tá Nicolas, trải qua (từ trang
232 đến 236) do nhà
xuất bản Vuibert & Nony, Paris in năm 1903.
![]() |
| Một kiểu biểu tượng duy nhất - Ga Đà Nẵng |
| Một kiểu biểu tượng duy nhất - Chụp tại ga Hòa Hưng, Sài Gòn |
![]() |
| Một kiểu biểu tượng duy nhất - Ga Vinh, Nghệ An |
Saturday, June 13, 2015
CHUYỆN NHÀ ÔNG SÁU ĐỰC
CHUYỆN
NHÀ ÔNG SÁU ĐỰC
Vùng
đất đẹp phía Tây Thành phố với nhiều
kênh rạch, ốc đảo thanh bình.
Xóm
giềng của chúng tôi có mười mấy hộ gia đình, trong đó quan trọng nhất với tôi
là nhà ông Sáu Đực ở mảnh đất liền kế bên đất gia đình tôi.
Ông
Sáu là nhà nông truyền thống. Vợ ông đã mất từ lâu. Ông có 3 đứa con. Thằng Hai
tên Đảm là một thanh niên từng trải, khôn ngoan có phần ranh mãnh. Sau khi mẹ
mất nó là cánh tay đắc lực thay ông Sáu bương trải cực nhọc làm ăn để nuôi sống
gia đình. Giờ nó là thanh niên cứng, quan hệ và giao du xã hội rộng nhưng cũng
có phần phức tạp. Nó vẫn thường xuyên cùng đám con nhà ông Phát ở xóm trên đi
hàng biên giới. Thậm chí nó còn cho vay nặng lãi và giao du với một số đám ma
cô, đá cá lăn dưa sẵn sàng gây khó dễ cho những ai mà chúng không ưa.
Thằng
Ba tên Được là một cậu bé tuyệt vời, duy chỉ có cái bịnh hơi mát mát. Nghe nói
thời trung học cậu là một học sinh rất giỏi. Rồi không hiểu sao năm cuối phát
bịnh tưng tưng bỏ thi đại học luôn, ở nhà cùng mẹ làm ruộng vườn và nuôi vịt
đồng ở mấy doi đất dọc bờ kênh. Có lẽ học quá hóa rồ theo cách nói dân gian. Từ
khi mẹ cậu mất thì cậu trở nên lầm lì hơn và vẫn chăn vịt đồng trên kênh.
Cô
bé Út tên Điệp là đứa trẻ tôi thích nhất trong đám con ông Sáu Đực. Đó là một
cô gái đa tài, năng động, hoạt bát và ngang tàng. Ngoài học giỏi mà võ cũng
giỏi, lại thêm thích ca hát, ưa sinh hoạt cộng đồng. Đám bạn bè của cậu Hai Đảm
cũng phải kiêng dè cô bé. Cô bé thủ khoa năm nào, sau khi tốt nghiệp đại học
dám từ bỏ lời mời làm việc tại một hãng nước ngoài để cùng bạn bè hợp tác kinh
doanh. Hiện cô là chủ gian hàng nông thủy sản tại khu phố chợ. Mấy cậu con trai
của chú Khởi cuối xóm chết mê chết mệt cô bé vì cô bé xinh xắn lại hay giúp đỡ
họ, ấy vậy mà cứ xáp nhậu với nhau thì y như rằng các cô cậu lại cãi nhau chí
chóe, nhưng rồi cũng vẫn nể và mê cô bé.
Hôm
rồi tại buổi họp tổ dân phố do xã tổ chức, vấn đề các hộ lấn chiếm kênh làm cản
trở lưu thông thủy được đưa ra. Gay gắt nhất là vụ hộ ông Phát đã công khai bồi
đắp mấy doi đất để xây dựng kiên cố. Thằng con ông đang tại chức trong quân đội
ngang nhiên kéo mấy xà lan chở đất cát đến rồi neo đậu ngang ngược giữa kênh.
Từ lâu bà con trong vùng bức xúc kêu ca lên xã mà có thấy ai dám xuống dẹp bọn
ngang ngược đó đâu. Trong buổi họp đó khi các hộ khác đấu thẳng thừng với ông
Phát về việc lấn chiếm lòng kênh gây cản trở lưu thông làm ăn của mọi người thì
thằng Hai Đảm ngồi im re. Có lẽ do nó còn đang làm ăn với mấy thằng con ông
Phát nên cả nể.
Vẻ
mặt của thằng Hai Đảm nghệt ra khi mọi người nói về mấy doi đất ông Phát xây
lấn, mà trước đây từng là của nhà nó. Nó không thể nào quên ngày mẹ nó mất khi
bà hay tin mấy thằng con ông Phát phá mấy cái chòi vịt của bà. Cả đời bà tần
tảo bám ruộng, bắt ốc nuôi vịt đều dựa vào mấy doi đất đó. Ông Sáu lúc đó đang
ở cùng đội sản xuất với ông Phát ở tập đoàn (hợp tác xã). Bà Sáu, khi đó dù
đang mang bầu con bé Điệp, đã cùng thằng cu Được vác đòn gánh ra cản mà không
được. Bà uất ức sinh bịnh, rồi thai nghén sanh nở, yếu lại yếu thêm nên bà ra
đi trong sự giận tủi.
Sau
khi hoàn thành chuyến công cán của tập đoàn chúng tôi cùng trở về, ông Sáu bất
ngờ sụp đổ trước sự mất mát quá lớn của gia đình ông. Thằng cu Được thì đang
gào thét bên thi hài mẹ nó, con bé Điệp thì ngặt nghẽo tím bầm đòi vú mẹ, còn
thằng Hai Đảm thì điên tiết uýnh lộn với đám con nhà ông Phát sặc máu mồm. Ông
bần thần đờ người lo mai táng cho vợ rồi cũng sinh bịnh liệt giường mà không có
thuốc thang nào trị vì nghèo. Trong nhà giờ tất cả chỉ cậy nhờ vào thằng Hai Đảm.
Sau
khi đi nghĩa vụ quân sự và tham gia chiến tranh biên giới trở về, Hai Đảm có
thời gian tham gia công tác tại địa phương. Nhưng thu nhập quá ít trong khi cha
thì bịnh liệt giường, các em quá nhỏ, nên Hai Đảm quay sang làm đủ nghề để cứu
cuộc sống gia đình nó. Từ khuân vác, chạy giao mối, buôn hàng biên giới đến cò
đất… nó đều lăn vào vật lộn.
Lo
cho cuộc sống gia đình tạm ổn, các em học hành xong, Hai Đảm ki góp ít vốn tùng
tam tụ ngũ với đám con ông Ba Phát nhận thầu xây dựng. Trúng được mấy dự án xây
dựng tốt nên Hai Đảm đã tích góp được số vốn kha khá nó liền tham gia chơi
chứng khoán, rồi cho vay. Cuộc sống gia đình ông Sáu không những ổn định mà còn
khang trang. Cậu cu Được bịnh tình giảm hẳn, ở nhà lo ruộng vườn và chăm sóc
ông Sáu. Cô bé Út Điệp có sạp chợ, hàng bán mối mang nhiều nên cũng khá giả, đã
phụ được anh Hai lo cho gia đình
Vậy
mà giờ đây gia đình ông Sáu lại gặp tình cảnh oái ăm nên phải trông chờ vào nó,
anh Hai lớn trong nhà. Điều làm cho Hai Đảm uất nghẹn ở đây không phải vì mấy
doi đất kia, mà vì sau bao năm hợp tác cùng nhau, giờ nó mới thấy rõ bộ mặt
thật của chiến hữu cùng chí hướng mà nó tin tưởng tuyệt đối. Trước đây nó với
đám con ông Phát đã từng đánh nhau vỡ mồm và kịch không thèm dòm nhau nữa.
Nhưng cuộc sống xô đẩy, nó lại liên kết với chúng để làm ăn cùng nhau và phải
công nhận cũng đã đạt thành quả mỹ mãn. Rồi chúng nó cùng nhau dự tính đầu tư lớn
chuyển hóa cả một vùng xóm kênh này thành một khu đô thị chuẩn về cảnh quan và
môi trường sống. Hai Đảm rất háo hức với dự án này, vì theo đó gia đình nó và cả
mười mấy hộ láng giềng sẽ được hưởng lợi rất lớn theo cách tính toán của chúng
nó.
Nếu
đúng theo toan tính của cậu Hai Đảm khi dự án thành công, cậu sẽ giao đất này
lại cho cu Được chăm nom phát triển vì bé Út Điệp sẽ theo chồng, còn cậu sẽ mua
nhà và ở trên phố để tiện giao thương quốc tế!, rồi lấy vợ sanh con, ôi một
giấc mơ tuyệt đẹp.
Nhưng
giờ đây giấc mơ đã sụp đổ hoàn toàn trước mắt Hai Đảm bởi đám con ông Phát đã
hành động quá sức càn rỡ nên bị cả xóm và chánh quyền phản ứng. Hai Đảm đau
nhất là chúng nó lại chọn ngay chính đất nhà mình để bày vẽ triển khai dự án,
bởi cũng chính vì nó là đứa nhiệt tình, toàn tâm toàn ý theo dự án Phương Đông
Tươi hồng với chúng ngay từ đầu.
Chiều
nay, Hai Đảm lầm lũi vác rìu ra sát bờ rào ranh đất nhà nó. Trên kênh thằng cu
Được đang lướt chiếc xuồng nhôm do một nhà từ thiện tặng nó, lùa đàn vịt đồng
về để tránh chúng bị bắt mất khi bơi lố lên phía doi đất cũ đã bị lấn chiếm.
Vẳng xa từ cuối xóm tiếng cười khanh khách của con bé Út Điệp đang tụ tập cùng
đám thanh niên sinh hoạt tập thể. Hai Đảm lặng lẽ bổ từng nhát, từng nhát xuống
hàng rào. Nó đang chêm thêm cây cho vững bờ rào bao bọc đất nhà nó.
Tiếng
đóng cọc rào của thằng Hai Đảm vang vang khuấy động cả xóm kênh, âm thanh cứ
như nghèn nghẹn vang trong sắc hồng đang lịm dần của buổi chiều hoàng hôn.
Tuesday, November 11, 2014
LAK LAKE IN THE CENTRAL HIGHLAND VIETNAM
Activities include riding in a dugout canoe -- US$10 for 2 people, they supply the rower. Gong shows with rice-wine drinking and a roast pig are available for US$60 for groups of up to 30. Elephant rides are US$30 per hour, per elephant, two passengers maximum. Trekking in the surrounding mountains is available for US$20 per person per day, and bike rentals include a map you can follow -- along the route is a rocky cliff at the base of which there's good swimming. It costs 25,000 VND for 1/2 day, 40,000 for a full day, or 10,000 per hour. A M'nong village 1.6km further down the main road from the lake can also be visited, but it's not much of a stand out as far as ethnic villages in the area go.
More
details
50km
southeast of Buon Ma ThuotHow to get there: If you have your own transport, you can reach
Thursday, October 30, 2014
The Lak lake on Western highland in Vietnam
The Lak lake on Western highland in Vietnam
Hồ Lắk nằm bên thị trấn Liên Sơn (hay Lạc Thiện) huyện Lắk, cạnh tuyến đường giao thông giữa Buôn Ma Thuột và Đà Lạt, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 56 km về phía Nam theo quốc lộ 27. Qua đèo Lạc Thiện khoảng 10 km trước khi vào thị trấn Lạc Thiện sẽ nhìn thấy hồ nằm bên tay phải. Còn không gian của khu rừng lịch sử, văn hóa, môi trường hồ Lắk còn bao trùm các xã Bông Krang, Yang Tao, Đắk Liêng.
Đây là hồ tự nhiên có độ sâu lớn nhất còn hơn cả Biển Hồ (tỉnh Gia Lai). Dân tộc bản địa ở đây còn có cả một huyền thoại nói hồ sâu không đáy hoặc thông qua tận Biển Hồ. Hồ rộng trên 5 km²[1], được thông với con sông Krông Ana. Mặt hồ luôn xanh thắm, xung quanh hồ được bao bọc bởi những dãy núi cao nên mặt nước hồ luôn phẳng lặng và có các cánh rừng nguyên sinh rộng lớn với hệ động thực vật phong phú.
Nơi đây có món đặc sản là chả cá thát lát hồ lăk, loài cá này đem làm chả cho độ dẻo và thơm rất đặc biệt. Với sự phong phú về nguyên liệu, người M'nông chế biến nhiều món ăn đặc sắc như: gỏi cà đắng cá cơm, cơm lam, canh tro, canh rêu đá...
Dọc theo bờ hồ Lak ( đoạn từ buôn Lê đến cổng chào khu văn hóa - du lịch buôn Jun), nơi được xem là “mặt tiền” để ngắm toàn cảnh hồ Lak, nhưng có vô số bãi rác là phế phẩm nông sản như vỏ, cùi ngô, rơm rạ, vỏ mía được người dân sau khi xay xát chất thành đống xả thẳng xuống bờ hồ. Rác thải từ đây ngấm nước trôi nổi lênh láng một góc mặt hồ; màu nước chuyển sang vàng đục, sủi bọt, khiến đến cả rong rêu, vi tảo cũng không thể sống được. Theo tìm hiểu, tình trạng người dân sống dọc bên hồ sản xuất nông nghiệp sau thu hoạch, xay xát thường xả rác thải ra dọc bờ hồ Lak đã trở thành thói quen thường ngày.
Vấn đề là giải quyết như thế nào?
Hồ Lắk nằm bên thị trấn Liên Sơn (hay Lạc Thiện) huyện Lắk, cạnh tuyến đường giao thông giữa Buôn Ma Thuột và Đà Lạt, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 56 km về phía Nam theo quốc lộ 27. Qua đèo Lạc Thiện khoảng 10 km trước khi vào thị trấn Lạc Thiện sẽ nhìn thấy hồ nằm bên tay phải. Còn không gian của khu rừng lịch sử, văn hóa, môi trường hồ Lắk còn bao trùm các xã Bông Krang, Yang Tao, Đắk Liêng.
Đây là hồ tự nhiên có độ sâu lớn nhất còn hơn cả Biển Hồ (tỉnh Gia Lai). Dân tộc bản địa ở đây còn có cả một huyền thoại nói hồ sâu không đáy hoặc thông qua tận Biển Hồ. Hồ rộng trên 5 km²[1], được thông với con sông Krông Ana. Mặt hồ luôn xanh thắm, xung quanh hồ được bao bọc bởi những dãy núi cao nên mặt nước hồ luôn phẳng lặng và có các cánh rừng nguyên sinh rộng lớn với hệ động thực vật phong phú.
Nơi đây có món đặc sản là chả cá thát lát hồ lăk, loài cá này đem làm chả cho độ dẻo và thơm rất đặc biệt. Với sự phong phú về nguyên liệu, người M'nông chế biến nhiều món ăn đặc sắc như: gỏi cà đắng cá cơm, cơm lam, canh tro, canh rêu đá...
Dọc theo bờ hồ Lak ( đoạn từ buôn Lê đến cổng chào khu văn hóa - du lịch buôn Jun), nơi được xem là “mặt tiền” để ngắm toàn cảnh hồ Lak, nhưng có vô số bãi rác là phế phẩm nông sản như vỏ, cùi ngô, rơm rạ, vỏ mía được người dân sau khi xay xát chất thành đống xả thẳng xuống bờ hồ. Rác thải từ đây ngấm nước trôi nổi lênh láng một góc mặt hồ; màu nước chuyển sang vàng đục, sủi bọt, khiến đến cả rong rêu, vi tảo cũng không thể sống được. Theo tìm hiểu, tình trạng người dân sống dọc bên hồ sản xuất nông nghiệp sau thu hoạch, xay xát thường xả rác thải ra dọc bờ hồ Lak đã trở thành thói quen thường ngày.
Vấn đề là giải quyết như thế nào?
Friday, April 4, 2014
LỊCH SỬ CỦA SÂN VẬN ĐỘNG VÀ THẾ VẬN HỘI - The history of the stadium and the Olympic
LỊCH SỬ SÂN VẬN ĐỘNG - The history of the stadium
Trong thần thoại Hy lạp, Heracles (Hercules tên gọi theo La Mã), là người anh hùng về sức mạnh và sự vinh quang chiến thắng. Ông là người đầu tiên đã thiết lập quy tắc chiều dài để các lực sỹ chiến binh sẽ đối đầu với nhau trong cuộc đấu một mất một còn tại đấu trường. Truyền thuyết kể rằng đấu trường có kích thước 6 x100 theo bước chân của vị anh hùng.
Trong thần thoại Hy lạp, Heracles (Hercules tên gọi theo La Mã), là người anh hùng về sức mạnh và sự vinh quang chiến thắng. Ông là người đầu tiên đã thiết lập quy tắc chiều dài để các lực sỹ chiến binh sẽ đối đầu với nhau trong cuộc đấu một mất một còn tại đấu trường. Truyền thuyết kể rằng đấu trường có kích thước 6 x100 theo bước chân của vị anh hùng.
Vào
năm 776 TCN, đấu
trường
đã được hình thành với
chiều dài theo dõi sự kiện được xác định
là 192 mét, phù hợp cho việc tranh đoạt trong thi đấu . Nó còn có một cổng chào đón các vị khách tham dự,
và được đặt tên là: Stadion .
Nguồn gốc – The origins
Nguồn gốc đấu trường đầu tiên có từ thế kỷ VIII trước Công nguyên, là một đấu trường thô sơ có hình dạng như một chữ "U" kéo dài. Bắt đầu và kết thúc viền chữ “U” ở hai đầu với chiều dài là 192 m, rộng 32 m để dành cho các cuộc tranh đua thi đấu. Các vị trí theo dõi cổ vũ được bố trí chạy dọc theo ba bên của đường đua hình chữ U kéo dài này, hai hành lang thẳng và một được tạo theo viền cong. Ở đối diện phía bên kia là không gian mở trông ra những cảnh quan xung quanh. Một vách đá dựng đứng để phân biệt hai lối vào riêng biệt cho ban giám khảo và khán giả, do đó khán giả có thể xem những nỗ lực thi đấu của các đấu sỹ và cổ vũ họ trong suốt cuộc thi.
Đấu trường sau đó, đã được mở rộng cho các trò chơi thể thao đã trở thành phổ biến trong toàn bộ Hy Lạp cổ đại, một sân vận động (stadion) có thể chào đón đến 45.000 khán giả. Hiện vẫn còn những di tích ở Ephesus, Delphi và hơn hết là di tích tại Athens, được xác định xây dựng vào năm 331 trước Công nguyên.
Đó chính là sân vận động Panathenaic, sau đó đã được xây dựng lại hiện đại hơn dành cho Thế Vận Hội Olympic đầu tiên diễn ra vào năm 1896 và gần đây đã được cải tạo tiếp để dành cho Thế vận hội Olympic Athens 2004.
Từ Hy Lạp đến Roma - From Greek to Roman
Các môn thể thao cưỡi ngựa, diễn xiếc có liên quan tới ngựa đã thu hút người dân La Mã đến các đấu trường có hình chữ "U" theo các mô hình trước đó. Khu vực dành cho khán giả được bố trí trên một sườn dốc tự nhiên và phần dưới được xây dựng bằng đá. Tầng gác bên trên được xây dựng ở độ cao nhất định và thường được làm bằng gỗ.
Trong thời kỳ La Mã, các giác đấu trường được xây dựng bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên trái ngược với mô hình của Hy Lạp. Các tầng được xây dựng trên một độ cao nhất định với các hàng chỗ ngồi chồng gối nhau cao dần về phía sau. Cách bố trí theo hình elip để bao phủ quanh giác đấu trường và khán giả có thể tập trung vào các hoạt động tại khu vực trung tâm với những trận đánh của các đấu sĩ độc ác. Giác đấu trường Arles, Verona Arena và tất nhiên Flavian Amphitheatre, Đấu trường La Mã, là những ví dụ quan trọng nhất.
Song song với quá trình chuyển đổi từ đấu trường truyền thống kiểu Hy Lạp thành mô hình giác đấu trường trong thế giới La Mã, là sự ra đời của các rạp xiếc, các nơi đua ngựa. Đó là sự phát triển xuất phát từ các nguyên mẫu của sân vận động hình thức chữ “U”, diễn ra từ giữa thế kỷ II và thế kỷ I trước Công nguyên. Trong thời kỳ này các cộng đồng dân cư hầu như chưa hề có các loại hình nghệ thuật giải trí phổ biến chung nào do những văn hóa dị biệt của mỗi vùng đất. Chính vì lẽ đó mới thấy giá trị đối với cộng đồng của sự phát triển sân vận động (stadion) và các hình thức thi đấu trong nó.
Mười lăm thế kỷ bị đình chỉ - Fifteen centuries of suspension
Trầm kha số phận trên 1500 năm của sân vận động
Trong thế kỷ IV, tầm quan trọng của thể thao được đánh giá đáng kể trên toàn thế giới cổ đại, mà không thể tránh khỏi có ảnh hưởng đến sự phát triển của các cơ sở thể thao, các sân vận động.
Sau khi giáo phái Kitô giáo được hợp pháp hóa tại Châu Âu bởi sắc lệnh của Hoàng ĐếConstantine ,
Trong thế kỷ IV, tầm quan trọng của thể thao được đánh giá đáng kể trên toàn thế giới cổ đại, mà không thể tránh khỏi có ảnh hưởng đến sự phát triển của các cơ sở thể thao, các sân vận động.
Sau khi giáo phái Kitô giáo được hợp pháp hóa tại Châu Âu bởi sắc lệnh của Hoàng Đế
Năm 314, Hội đồng Giám Mục được tổ chức họp tại Arles (Miền
Nam nước Pháp) đã áp đặt 22 điều giáo luật cấm hành nghề
ngoại giáo như đua xe ngựa, charioteers, võ sỹ giác đấu, xiếc… Điều này đã tác động đến việc phải chuyển đổi của các rạp xiếc và các cơ sở thể thao công
cộng.
Tương tự, năm 394, từ khi Hy Lạp đặt dưới sự cai trị của La Mã trong một thời gian dài, một
sắc lệnh được ban hành bởi Hoàng đế Theodosius chấp
nhận thực hiện theo yêu cầu của Giám mục thành Milan Ambrose đã dẫn đến việc bãi bỏ tổ chức Thế vận hội Olympic, và được coi như là một nghi thức ngoại giáo trái với nghi lễ tôn giáo.
Vì vậy loại hình xây dựng mới nhà thờ, giáo đường, lâu đài, công sự, tháp chuông và cung điện, đã trở thành yếu tố phát triển đặc thù của các thị trấn thời Trung Cổ. Hoạt động thể thao ít và hạn chế. Các công trình thể thao ở Hy Lạp và La Mã cổ đại đã dần dần bị bỏ rơi. Nhiều sân vận động đã được chuyển đổi thành thị trường nhà ở, những nơi khác thì được kéo xập để tái sử dụng vật liệu xây dựng.
Thi đấu thể thao được thúc đẩy trở lại trong thời kỳ Phục hưng, khi các sự kiện chạy đua và các sự kiện đua ngựa được giới thiệu lại. Tuy nhiên, các sự kiện này đã không diễn ra tại các cơ sở thể thao cụ thể, mà thường diễn ra trong không gian mở như đồng cỏ, thung lũng,… hoặc trong khuôn viên các khu vườn, được tạm dựng bởi các tầng bằng gỗ và mái che nhỏ cho khán giả là các nhà quí tộc tham dự. Điển hình là cuộc thi tại Piazza del Campo ở Siena với cuộc đua ngựa Palio của nó là những trường hợp quan trọng nhất mà vẫn còn phổ biến đến ngày nay, trong khi ở Firenze tại Piazza Santa Croce, tiền thân của bóng đá hiện đại đã được tổ chức để chơi trong đội bóng với 27 thành viên mà không có bất kỳ quy tắc nào, chỉ với một chủ đích là ném bóng vào mục tiêu của đội đối phương.
Thể thao đúng quy định (có luật chơi) chỉ phát triển một vài thế kỷ sau đó, trong nửa cuối của thế kỷ XIX, với việc thành lập các câu lạc bộ đầu tiên và các Liên đoàn thể thao. Với sự nhiệt tình ủng hộ của người dân đối với các môn thể thao mới như bóng đá và bóng bầu dục, đặc biệt nhanh chóng phát triển ở Anh,Mỹ,… sớm cho thấy sự cần thiết phải xây dựng cơ sở vật chất mới để có thể chào đón một số lượng rất lớn người hâm mộ.
Sự hồi sinh cho Thế vận hội Olympic,đã được đề xuất vào năm 1894 do Nam tước Pháp Pierre de Coubertin, với Thế Vận Hội Olympic đầu tiên diễn ra vào năm 1896 tại Athens đã đánh dấu sự bắt đầu của một kỷ nguyên mới cho Thế vận hội Olympic và cho các mô hình sân vận động hiện đại.
Vì vậy loại hình xây dựng mới nhà thờ, giáo đường, lâu đài, công sự, tháp chuông và cung điện, đã trở thành yếu tố phát triển đặc thù của các thị trấn thời Trung Cổ. Hoạt động thể thao ít và hạn chế. Các công trình thể thao ở Hy Lạp và La Mã cổ đại đã dần dần bị bỏ rơi. Nhiều sân vận động đã được chuyển đổi thành thị trường nhà ở, những nơi khác thì được kéo xập để tái sử dụng vật liệu xây dựng.
Thi đấu thể thao được thúc đẩy trở lại trong thời kỳ Phục hưng, khi các sự kiện chạy đua và các sự kiện đua ngựa được giới thiệu lại. Tuy nhiên, các sự kiện này đã không diễn ra tại các cơ sở thể thao cụ thể, mà thường diễn ra trong không gian mở như đồng cỏ, thung lũng,… hoặc trong khuôn viên các khu vườn, được tạm dựng bởi các tầng bằng gỗ và mái che nhỏ cho khán giả là các nhà quí tộc tham dự. Điển hình là cuộc thi tại Piazza del Campo ở Siena với cuộc đua ngựa Palio của nó là những trường hợp quan trọng nhất mà vẫn còn phổ biến đến ngày nay, trong khi ở Firenze tại Piazza Santa Croce, tiền thân của bóng đá hiện đại đã được tổ chức để chơi trong đội bóng với 27 thành viên mà không có bất kỳ quy tắc nào, chỉ với một chủ đích là ném bóng vào mục tiêu của đội đối phương.
Thể thao đúng quy định (có luật chơi) chỉ phát triển một vài thế kỷ sau đó, trong nửa cuối của thế kỷ XIX, với việc thành lập các câu lạc bộ đầu tiên và các Liên đoàn thể thao. Với sự nhiệt tình ủng hộ của người dân đối với các môn thể thao mới như bóng đá và bóng bầu dục, đặc biệt nhanh chóng phát triển ở Anh,Mỹ,… sớm cho thấy sự cần thiết phải xây dựng cơ sở vật chất mới để có thể chào đón một số lượng rất lớn người hâm mộ.
Sự hồi sinh cho Thế vận hội Olympic,đã được đề xuất vào năm 1894 do Nam tước Pháp Pierre de Coubertin, với Thế Vận Hội Olympic đầu tiên diễn ra vào năm 1896 tại Athens đã đánh dấu sự bắt đầu của một kỷ nguyên mới cho Thế vận hội Olympic và cho các mô hình sân vận động hiện đại.
Sưu tầm
Subscribe to:
Posts (Atom)



















