Monday, October 30, 2017

VŨ KHÍ TẦM XA – Yếu tố luôn khơi mào các cuộc chiến

Từ xưa tới nay, trên thế giới luôn phải trải qua các cuộc chiến tranh lớn nhỏ khác nhau.
Vậy thì ai, dân tộc nào, quốc gia nào dám khơi mào cuộc chiến? Và họ có ưu thế gì mà dám gây chiến?
Theo chiến tranh cổ điển (cơ bắp) thường áp dụng theo những nguyên tắc sau:
MẠNH HƠN: Ai mạnh hơn sẽ chiến thắng và trở thành tướng. Tộc nào có nhiều mãnh tướng thường chiến thắng trở thành Lãnh chúa.
ĐÔNG HƠN: Ai thu phục được nhiều lãnh chúa thì lập vương quốc, quốc gia và thành Vua
Vậy khả năng nào để một quốc gia dám gây chiến với một quốc gia khác, một nước hay nhiều nước khác!
Qua tìm hiểu từ các cuộc chiến tranh từ xưa tới nay, chúng ta dễ dàng thấy một điều: Yếu tố chính là những ai, quốc gia nào có được vũ khí tầm xa tốt hơn và khả năng tác chiến từ xa, khả năng cơ động đánh xa tốt hơn luôn là những kẻ gây chiến và khơi mào chiến tranh trước các quốc gia khác. 

 PHẦN I
Đạo quân Mông Cổ



ĐỘI QUÂN MÔNG CỔ
Theo Genk.vn

Đầu thế kỷ 13, từ những thảo nguyên hoang vu ở Trung Á, người Mông Cổ đã cất vó ngựa chinh phạt khắp lục địa Á – Âu và tạo nên một trong những đế quốc vĩ đại nhất thế giới. Đế chế Mông Cổ là một trong những đế chế hùng mạnh nhất của lịch sử chiến tranh thế giới.

Đế chế Mông Cổ được Thành Cát Tư Hãn (Ghengis Khan) - nhà lãnh đạo tài năng, xuất sắc đã dẫn dắt những chiến binh từ thảo nguyên từng bước trở thành đạo quân hùng mạnh. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đế chế Mông Cổ đã phát triển lớn mạnh chưa từng thấy. Ở thời điểm cực thịnh của mình, người Mông Cổ đã xây dựng được một đế chế trải dài hơn 9700 km với diện tích lên tới 24 triệu km2, tương đương 1/6 thế giới, chiếm tới 16% diện tích bề mặt trái đất đã rơi vào tay họ. Quân đội Mông Cổ tràn qua châu Á, cướp phá và giết người tàn bạo. Theo các nhà nghiên cứu, khoảng 60 triệu người đã bỏ mạng trong các cuộc xâm lược của quân Mông Cổ.


.. Để chinh phục được một lãnh thổ rộng lớn như thế, người Mông Cổ đã xây dựng cho mình một đội quân thiện chiến bậc nhất lúc bấy giờ. Với khả năng cưỡi ngựa bắn cung trong chăn nuôi, săn bắn trên thảo nguyên, người chiến binh Mông Cổ khi tham chiến thật dễ dàng lùa đối thủ của mình như lùa những con thú, rồi hạ gục họ và người đã thu phục và tập trung những chiến binh này là thủ lĩnh Thiết Mọc Chân - Temüjin, sau trở thành Thành Cát Tư hãn của Đế quốc Mongol - Mông Cổ.

TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI
Thủ lĩnh Thiết Mộc Chân sau khi thu phục và sát nhật các bộ tộc trên thảo nguyên đã thiết lập hệ thống cai trị quân đội theo phân cấp: Thập hộ trưởng - arban (10 lính), Bách hộ trưởng - zuun  (100 lính), Thiên hộ trưởng - myangan (1000 lính) và Vạn hộ hầu - tumen  (10.000 lính). Mổi thủ lĩnh mỗi cấp có quyền cai quản chăm lo cuộc sống số hộ dân tương đương với cấp của mình đảm nhận và có trách nhiệm luôn đảm bảo đủ số lính khi có chiến tranh. Với chính sách này, Thủ lĩnh Thiết Mộc Chân đã tăng nhanh quân số cho đạo quân của mình qua các cuộc chinh phục mà ông không phải lo lắng về việc cai trị dân chúng các bộ tộc đã khuất phục. Mỗi đội quân nhỏ nhờ có tính cục bộ địa phương bộ tộc riêng nên họ hiểu rõ nhau, luôn bảo vệ nhau trong giao chiến và luôn mong dành nhiều chiến công để mở rộng đội quân bộ tộc của mình bằng các chiến lợi phẩm là những hộ dân nô lệ..
Trong các cuộc viễn chinh, các tướng lĩnh, thủ quân các đội quân luôn được tưởng thưởng ngay tại trận mạc những chiến lợi phẩm thu được hoặc do cướp bóc từ những thành phố, làng mạc của đối phương theo chiến công của đội quân do mình phụ trách lập nên, không cần phân biệt giai cấp, đẳng cấp xã hội. Chính điều này đã làm cho các đạo quân của Thành Cát Tư Hãn mỗi khi viễn chinh không phải lo lắng về lương thực và luôn tự lớn mạnh nhờ sự gia nhập của các bộ tộc đơn lẻ, của các thành phần dân du mục,… chỉ luôn hả hê với việc cướp bóc, chém giết. Nhưng cũng chính điều đó mà đạo quân Mông Cổ cũng bị cho là đạo quân tàn bạo nhất

NGỰA – Tóc độ hành quân và tập kích
Người Mông Cổ có máu du mục ở trong tim. Họ mạnh mẽ khi chiến đấu trên lưng ngựa. Ngựa cũng được coi là một chiến binh, một loại vũ khí không thể thiếu được. Giống ngựa Mông Cổ bắt nguồn từ những đồng cỏ phương Bắc với vóc dáng có phần nhỏ hơn, chân ngắn hơn, bờm và đuôi rậm hơn, song chúng ít đòi hỏi chăm sóc, sức chịu đựng tốt, có thể sống quanh năm bằng cỏ mọc trên thảo nguyên, đặc biệt thích nghi tốt với khí hậu cận ôn đới.
Quân đội Mông Cổ có thể tác chiến hiệu quả ở những vùng đất lạnh giá như Siberia cũng như vùng đất nóng bức Arabia. Ngựa chiến đóng vai trò quan trọng trong các cuộc chinh chiến của đạo quân Mông Cổ. Nhiều cường quốc đã từng gặp vấn đề trong những lần thực hiện cuộc xâm lược vào mùa đông, nhưng với đội quân Mông Cổ thì lại không gặp trở ngại gì, cùng với ngựa chiến đội quân Mông Cổ có thể di chuyển không cần cầu đường, vượt qua các dòng sông băng để bất ngờ tiến đánh các thành trì của đối phương.
Trong suốt thế kỷ XIII, vó ngựa của quân xâm lược Mông Cổ đã tung hoành khắp nơi, ngựa Mông Cổ có thể nói là phương tiện duy nhất để di chuyển đại quân từ Á sang Âu. Vó ngựa Mông Cổ được coi là đi đến đâu thì cỏ không mọc được, phi đến đâu thành bình địa đến đó.

CHIẾN THUẬT
Kỵ binh Mông Cổ xưa nay khi tác chiến đều không mang theo quá nhiều lương thực. Khi hành quân, phụ nữ thường lùa gia súc theo, cùng với tốc độ hành quân của đại quân, hai bên có quân kị theo kèm bảo vệ. Đoàn gia súc này chính là lương thực của họ: có sữa để uống,  có thịt để ăn. Quân Mông Cổ ưa thích lối đánh “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, nuôi quân bằng lương thực, chiến lợi phẩm cướp bóc được trên đường tấn công.
Lối đánh của người Mông Cổ có hai điểm nổi bật, đó là dùng tốc độ ngựa phi bất ngờ đánh nhanh thắng nhanh và giả thua rồi đột ngột quay lại tấn công. Cả hai chiến thuật này đều làm cho hàng ngũ địch mất tinh thần, rối loạn.


Họ có thể bắn tên cực kì chính xác khi phóng ngựa nhanh và thậm chí có thể xoay người bắn ngược chính xác vào kẻ truy đuổi. Chính vì thế, đòn "hồi mã cung" được coi là "đặc sản" của đội quân Mông Cổ.
Chẳng hạn như để tạo uy thế sức mạnh của các đội kỵ binh thiện chiến, phát huy tối đa lợi thế di chuyển nhanh, quân Mông Cổ thường dùng bài chia cắt, chẻ lực lượng quân đối phương tan mỏng ra và áp đảo các cánh quân nhỏ lẻ này bằng cung nỏ.

VŨ KHÍ: Cung và tốc độ bắn
Khi cung nỏ được đưa vào chiến trường và có tính quyết định thắng bại của trận chiến, người ta mới chú ý phân loại về cung nỏ và sự lợi hại của vũ khí tầm xa này.
Cung tên xuất hiện từ những thợ săn, vì phải luồn lách trong rừng để theo rình con mồi nên cung thưởng ngắn (Short bow) và đơn giản. Tầm bắn khoảng 25 – 30m phù hợp với tầm nhìn và khả năng thu hồi chiến lợi phẩm của thợ săn. Loại cung này không dùng trong chiến trường được.
Xuất thân từ thảo nguyên – những thợ săn người Mông Cổ với tài cưỡi ngựa tuyệt đỉnh nhằm theo đuổi và lùa dã thú, mắt nhìn rộng trên thảo nguyên tìm mồi, tay chân khỏe mạnh, dẻo dai nên họ sử dụng loại trường cung có tầm bắn xa hơn. Khi trở thành chiến binh cung Thủ Mông Cổ có thể bắn nhiều mục tiêu cùng lúc xứng đáng là bậc thầy chiến đấu. Cung thủ Mông Cổ sử dụng chủ yếu là loại composite bow (Cung cải tiến), một người lính có khi được trang bị từ 2 – 3 cây cung và vô số tên bắn.
Cung cải tiến (Composite bows): Được phát minh ra bởi người Ai Cập, ở châu Á thời Xuân Thu Chiến Quốc ( khoảng thế kỉ 4 trước công nguyên ) người Trung Quốc cũng có loại cung này. Nó dài hơn cung ngắn (Short bow – Cung đi săn) . Mũi tên đã đạt đến chiều dài 80–85 cm (của người Ba Tư), thậm chí lên đến gần 90 cm (của người La Mã). Tầm bắn của Composite bow khoảng 180m và khả năng xuyên thấu mạnh.
Composite bow được làm từ rất nhiều nguyên liệu khác nhau như gỗ, tre, sừng, gân động vật. Lòng cung làm bằng tre hoặc gỗ quý được dát sừng trâu, ngà voi và được quấn lại bằng gân trâu bò thuộc. Cánh cung làm bằng gỗ dâu, cũng có khi làm bằng sừng hoặc ngà. Chuyện về chiếc cung được làm bằng Ngà voi, đó là trường-hợp của Cây Cung ngoại lệ bằng ngà của Sở Cung Vương vào thời đại Xuân Thu (722-481 trước CN) đã đưa cho nhà thiện xạ Dưỡng Do Cơ bắn chết Ngụy Kỳ.
Vật liệu chế tạo là thế  còn kỹ thuật chế tác Composite bow cũng cực kì phức tạp đòi hỏi kỹ thuật chuyên môn rất cao, nên ở nhiều quốc gia thời Trung Cổ thợ làm cung luôn được coi trọng trong xã hội.


Cung của người Mông Cổ là một chiếc cung cải tiến uốn ngược phức hợp 3 khúc, một vũ khí được gia công bằng gỗ, sừng và gân động vật. Các cung thủ Mông Cổ thường luyện tập với bia bắn cách xa 200 m . Tầm bắn chiến đấu của cung Mông Cổ được là 200 - 300 yard ( 182 - 275m ), nó có thể phóng một mũi tên xa tới 300m.
Khi người Mông Cổ đặt chân lên Nhật Bản họ đã ngạc nhiên vì tầm bắn hạn chế của cung Nhật và dĩ nhiên họ dễ dàng áp đảo quân Nhật từ khoảng cách xa hơn. Tuy nhiên sau khi Mông Cổ đã rút đi, người Nhật vẫn duy trì cách sử dụng cung truyền thống, có lẽ là bởi cách đánh trận của người Nhật thường trang bị giáp dày và nặng. Vì thế yếu tố xuyên giáp tầm gần mới là mục tiêu chính của các cung thủ Nhật. Dân Đại Việt ta cũng đã có vinh dự đối mặt với đạo quân này rồi.
- Thân Tên : Thời Thượng Cổ, Thân Tên được làm bằng gỗ, vì trọng lượng nặng mà tên bắn không được xa. Đến thời Trung Cỗ, thân Tên được làm bằng Cỏ Bồng, nên bắn được xa hơn nhiều. Và chính vì thế mới có thành ngữ  “Tang Bồng Hồ Thỉ” (Cung người Hồ bằng gỗ Dâu, Tên bằng cỏ Bồng) để nói về chí khí kẻ làm trai.
Tuy nhiên Thân Tên làm bằng Cỏ Bồng không bền chắc để sử-dụng ngoài sa trường, nên về sau Thân Tên được làm bằng gỗ Thông Bá Hương, vừa nhẹ lại vừa bền chắc và dẽo dai hơn. Theo sử sách, khả năng dùng tên của người Mông Cổ cũng đã được công nhân, họ đã sử dụng nhiều loại tên, nổi tiếng nhất là Tên Còi: là một loại mũi tên rỗng ruột (như cây sáo, tạo ra âm thanh như tiếng huýt sáo). Mỗi khi cung thủ Mông Cổ tấn công, tiếng rít của những mũi tên phóng ra đã gây bao nỗi kinh hoàng cho kẻ thù vì tiếng rít vừa dứt thì vó ngựa đã ập đến chém giết của đạo quân Mông Cổ hung tàn.
Loại tên này cũng được các thủ lĩnh Mông Cổ sử dụng chủ yếu để ra hiệu trong trận mạc.
- Mũi tên: Thời kì đầu, mũi tên được làm bằng đá lửa. Về sau được làm bằng xương rồi được đúc từ đồng, sắt và cuối cùng là thép trui. Đầu mũi tên có nhiều hình dáng khác nhau, thường được bịt thép, có thể có ngạnh và tẩm độc.

THÔNG TIN LIÊN LẠC
Thành Cát Tư Hãn đã biết tận dụng tài cưỡi ngựa của chiến binh Mông Cổ và sự di chuyển nhanh lẹ của ngựa để thiết lập hệ thống thông tin chiến sự.
Hệ thống bưu chính của đế quốc Mông Cổ cũ được gọi là Yam – có nghĩa là "trạm kiểm soát". Một chiến binh đưa thư thường phải di chuyển 40 km giữa 2 trạm kế tiếp nhau. Sau đó người này có thể nhận ngựa mới đã được nghỉ ngơi hoặc đưa thư đó cho người tiếp theo để đảm bảo tốc độ chuyển thư nhanh nhất có thể. Một ngày chiến binh Mông Cổ có thể di chuyển quãng đường 200km.
Tại một thời điểm, trên toàn bộ diện tích Mông Cổ chiếm được có khoảng 1.400 trạm như thế với hơn 50.000 con ngựa sử dụng để chuyển thư tín, bưu phẩm.
Trong chiến tranh, nhờ thông tin chiến sự kịp thời đã giúp Thành Cát Tư Hãn và các bộ tướng của ông như Cáp Tát Nhi (Khasar) Hợp Xích Ôn (Khajiun), Thiết Mộc Cách (Temüge) Tốc Bất Đài ( Subutai) Triết Biệt (Jebe)… chuyển bại thành thắng nhiều trận chiến sinh tử.

Do đó, với ưu thế vượt trội tác xạ tầm xa cộng với khả năng di chuyển nhanh dễ dàng chiếm lĩnh ưu thế về địa hình đã giúp cho một dân tộc du mục nhỏ bé Mông Cổ dám gây chiến và chiến thắng chiếm lĩnh nhiều vùng đất rộng lớn của nhiều quốc gia lớn mạnh hơn họ nhiều lần.

Sau những thành công vang dội của Đạo quân Thành Cát Tư Hãn, các đội quân cung binh đã được nhiều quốc gia quan tâm xây dựng, nâng cấp cũng như chú tâm trong việc chế tạo vũ khí tầm xa này, lực lượng kị binh nhẹ cũng không ngoại lệ nhằm chiếm ưu thế trên chiến trường hay nhanh chóng tập kích hoặc phòng thủ tích cực. Hai đối tượng sức mạnh quân sự này sau này phát triển thành các lược lượng pháo binh, tên lửa nhằm khống chế tầm xa, thành lực lượng không quân, lính dù đổ bộ và các loại chiến xa nhằm tăng khả năng tác chiến tầm xa tại các quốc gia có tiềm lực quân sự hiện nay.

Còn tiếp: PHẦN II – NHỮNG CUỘC CHIẾN CỦA NAPONEON
SG, Oct 22, 2017
Street Talk


Thursday, February 11, 2016



NÓI CÂU CHÚC TẾT
Thiệt tình là mỗi khi Tết về thì tôi tồ nhất khoản nói lời chúc Tết đến mọi người.
Hồi còn là HSMN thì mấy khi gặp được người lạ ngày Tết đâu chỉ biết "Năm mới thắng to". Sau này thì cũng biết bập bẹ "Năm mới thắng lợi mới"


Giải phóng MN, về ở với gia đình, cứ dịp Tết đến là chở Ba má đi chức Tết mọi người, thế là nhược điểm cứ thế lộ diện trước bàn dân thiên hạ. Gặp người lạ là chàng trai 15, 16 tuổi cứ e thẹn, ấp a ấp úng nói không ra ngô ra khoai gì cả. Chán đến nỗi Ba tui phải nói " Đồ trời gầm, đi ăn học ta bà thế giới mà hữu dõng vô ngôn"
Chính vì là điểm yếu của bản thân nên tôi hay để ý mọi người chúc nhau thế nào. Ôi bao mỹ từ tuôn trào từ họ làm mắt tôi cứ lé xẹ luôn. Trong xóm có gia đình anh Út là tôi thích ghé thăm chúc Tết vì nếp nhà giản dị, con cháu hội tụ mấy ngày Tết đông đúc. Nhưng khoái nhứt là nghe họ chúc nhau, nghe cứ như thơ ca tuôn trào từ nhiều người họa.
Sáng nay Mùng 3 Tết, đang ngồi uống cà phê ở đầu ngõ thì anh Út ghé vô: "Tân xuân Phúc đáo, lát nhớ ghé tao làm vài xị mậy Ba" Ba là tên tôi. Đấy mới nghĩ tới họ là họ đã xổ nho ngày xuân rồi, hay thiệt.
- Năm mới Phát tài anh Út, cà phê nhen - Tôi nói. Anh kêu ly cà phê sữa đá rồi nói:
- Cám ơn chú mày, nhưng tao đâu có đánh bài đâu mà "phát tài" - Trời à, tôi lại tẽn tò rồi. Tôi biết trong Nam này họ thường chúc nhau phát tài khi chơi bài ăn tiền ngày Tết, nhưng do quen miệng xã giao nên bị hố.
- Hỏi thiệt sao anh Út với mấy đứa nhỏ nhà anh chúc Tết nghe hay ghê zvậy? - Tôi tò mò. "Nhà ổng chơi cho chữ mà" Bà chủ quán xía vô câu chuyện.
- Là sao anh Út?
- Hà hà... đúng đó Ba - Anh Út tự hào - Nhà tau nông dân rặt, lo cho tụi tau ăn học đứa tới đứa không, nên mấy ông anh học cao nó chúc hay còn tau lớp 4 chống mù chữ, nên cứ chúc là cả nhà cười. Thấy zvậy nội bàn với ông già (người cha) bắt tụi tau cứ giao thừa họp mặt gia đình là cho chữ để chúc nhau.
- Dạ, chưa hiểu?
- Cái thằng... "ngu lâu có thưởng" - anh Út tiếp - Tức là ổng ra chữ tụi tau theo chữ mà chúc nhau. Thí dụ cho chữ Trường thì Trường thọ, trường lộc. Cho chữ An thì An khang - An lạc, chữ Tấn thì Tấn tài, tấn lộc. Đó cứ thế mà mần miết thành quen. Đến khi tau tiếp quản nhà hương hỏa này cũng y zvậy mà bày cho con cháu mần theo.
- Aha hay - tôi gợi ý anh Út, đặng tý ghé nhà cũng có câu chúc thuận theo mọi người - Zvậy năm nay là chữ gi anh Út?
- Chữ PHÚC
- !!!
SG 10-02-2016
Mùng 3 Tết Bính Thân 2016
Street Talk

Friday, September 11, 2015

HỢP TÁC KD WIN – WIN 50:50


1. CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Lô đất thổ vườn diện tích: 70m x 10m. Giá bán: 3 triệu đ/m2

Vị trí: Ấp 7, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, TPHCM

-         Mặt tiền bờ kinh C, đường nhựa 8m

-         Khu vực các khu CN: Tân Tạo, Lê Minh Xuân, Vĩnh Lộc B, Đức Hòa

Liên hệ chính chủ: Ông Ba – 0903969996

2. HỢP TÁC KD WIN – WIN 50:50

Hợp tác XDKD nhà trọ công nhân – 36 phòng, có thể mở rộng thêm

Đơn giá: 1 triệu đ/tháng/phòng 3mx3m, gác lửng, toilet, đồng hồ điện riêng.

Cần hợp tác lâu dài với người có tâm huyết: đầu tư hưu trí, đầu tư thân nhân VN

-         Đầu tư vốn 500 triệu đồng: XD cơ sở, điện, nước, GP tiêu chuẩn trọ mẫu

-         Hàng tháng: Thu = 36.000.000đ – chi phí: điện, hành chánh, lãi suất NH

-         Phân chia lợi nhuận: 50 : 50

-         Lợi nhuận sẽ cao hơn gởi NH, thậm chí hơn cho vay nóng 3%/tháng

-         Dòng tiền thu đều hàng tháng. Camera giám sát, quản lý thu chi.

-         An tâm nhanh thu hồi nguồn vốn, không rủi ro, không mất giá.

Liên hệ chính chủ: Ông Ba – 0903969996

 


Thursday, August 27, 2015

TUYẾN ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM VỚI TỔNG THỐNG PHÁP THỨ 14

TUYẾN ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM VỚI TỔNG THỐNG PHÁP THỨ 14

Dẫu biết nỗi uất hận của các dân tộc bị thuộc địa là rất lớn đối với chủ nghĩa thực dân, nhưng không thể phủ nhận các chính quốc cũng đã mang khoa học kỹ thuật tiên tiến của nhân loại đến các xứ thuộc địa. Tất nhiên là họ đã dùng các kỹ thuật tiến bộ đó để khai thác tài nguyên và bóc lột người dân thuộc địa. Và theo xu thế thời đại, các nước thuộc địa cũng dần trở nên độc lập và người bản địa cũng tận dụng những cơ sở vật chất của thực dân để lại mà khai thác tài nguyên và “khoan sức dân” để tăng trưởng kinh tế.


Việt Nam cũng là một trong những nước đã tự mình giành được độc lập 1945.Việt Nam đã được thừa hưởng từ chủ nghĩa thực dân như chữ viết hệ la-tinh, các mỏ khai thác khoáng, các nhà máy điện, hệ thống giao thông và đặc biệt là tuyến đường sắt Băc – Nam. Người có công lớn trong các công trình này là người sau này trở thành Tổng thống thứ 14 của nước Pháp.
Joseph Athanase Gaston Paul Doumer (1857-1932)












Cầu Doumer - nay là cầu Long Biên, Hà Nội, Việt Nam























Ông Joseph Athanase Gaston Paul Doumer (1857-1932), Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897-1902, sau là Tổng thống Pháp thứ 14 từ 1931-1932. Trong thời kỳ làm Toàn quyền Đông Dương, ông đã cho xây dựng rất nhiều đường xá, cầu cống, các tuyến đường sắt, đặc biệt là tuyến đường sắt nối Bắc – Nam. Các công trình đó vẫn được người dân Việt Nam sử dụng cho tới ngày nay.
·                    Năm 1886 tuyến đường sắt Sài Gòn  Mỹ Tho đã hoàn thành. (Không còn)
·                    Năm 1902, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội  Đồng Đăng;
·                    Năm 1902, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Hải Phòng;
·                    Năm 1906, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Lào Cai;
·                    Năm 1931, Pháp xây dựng xong Đường sắt Tháp Chàm  Đà Lạt; (không còn)
·                    Năm 1933, Pháp xây dựng xong Đường sắt Sài Gòn – Lộc Ninh; (Không còn)
·                    Năm 1899 - 1936, Pháp xây dựng xong tuyến Đường sắt Bắc Nam
Khánh thành tuyến đường sắt Sài Gòn - Chợ Lớn 1881

Ga Sài Gòn - 1920














Ga Hà Nội xưa - ga Hàng Cỏ















Ngày nay chánh phủ Việt Nam vẫn đang sử dụng và cứ loay hoay trong việc nâng cấp hệ thống đường sắt mà người Pháp đã để lại hơn 100 năm nay. Điều đó cho thấy để điều hành một quốc sách phát triển một lãnh vực không phải là đơn giản. Chính vì lẽ đó mà chúng ta càng hiểu thêm rằng công lao đưa ra quyết sách với quyết tâm thực hiện bằng được tuyến đường sắt của ông Paul Doumer vào thời điểm đó giá trị như thế nào đối với đất nước Việt Nam.

Thanh niên Miền Bắc tòng quân











Bộ đội sửa chữa đường sắt

















Điều chúng ta, những người thụ hưởng tuyến đường sắt đó cứ day dứt rằng Việt Nam có nên có một bức tượng nhỏ ghi nhận công lao của ông Paul Doumer. Sẽ rất khó cho chánh phủ hiểu được rằng “truyền thống cách mạng” rất vẻ vang nhưng dù sao vẫn chỉ phản ánh một giai đoạn lịch sử. Còn nguồn gốc hình thành nên chuỗi lịch sử và nó còn tiếp diễn mãi về sau là điều cần thiết phải ghi dấu.
Chính lúc này là thời điểm tốt để ghi dấu đó vì chánh phủ Việt Nam đang nỗ lực đầu tư nâng cấp toàn tuyến đường sắt Bắc – Nam. Và địa điểm có lẽ thích hợp nhất là ga Đà Nẵng mới, vì trong quá trình duyệt quyết sách xây dựng tuyến đường sắt này ông Paul Doumer đã có kỷ niệm sâu sắc về chuyến đi khảo sát gian khổ đến Đà Nẵng trong cuốn hồi ký L’Indochine Française (Souvenirs) kể lại đoạn đường 800 km mà ông cùng người tùy tùng, thiếu tá Nicolas, trải qua (từ trang 232 đến 236) do nhà xuất bản Vuibert & Nony, Paris in năm 1903. 


Tháng 8-2015
Ba Đông
Một kiểu biểu tượng duy nhất - Ga Đà Nẵng
Một kiểu biểu tượng duy nhất - Chụp tại ga Hòa Hưng, Sài Gòn

Một kiểu biểu tượng duy nhất - Ga Vinh, Nghệ An





Saturday, June 13, 2015

CHUYỆN NHÀ ÔNG SÁU ĐỰC



CHUYỆN NHÀ ÔNG SÁU ĐỰC



Vùng đất đẹp  phía Tây Thành phố với nhiều kênh rạch, ốc đảo thanh bình.
Xóm giềng của chúng tôi có mười mấy hộ gia đình, trong đó quan trọng nhất với tôi là nhà ông Sáu Đực ở mảnh đất liền kế bên đất gia đình tôi.
Ông Sáu là nhà nông truyền thống. Vợ ông đã mất từ lâu. Ông có 3 đứa con. Thằng Hai tên Đảm là một thanh niên từng trải, khôn ngoan có phần ranh mãnh. Sau khi mẹ mất nó là cánh tay đắc lực thay ông Sáu bương trải cực nhọc làm ăn để nuôi sống gia đình. Giờ nó là thanh niên cứng, quan hệ và giao du xã hội rộng nhưng cũng có phần phức tạp. Nó vẫn thường xuyên cùng đám con nhà ông Phát ở xóm trên đi hàng biên giới. Thậm chí nó còn cho vay nặng lãi và giao du với một số đám ma cô, đá cá lăn dưa sẵn sàng gây khó dễ cho những ai mà chúng không ưa.
Thằng Ba tên Được là một cậu bé tuyệt vời, duy chỉ có cái bịnh hơi mát mát. Nghe nói thời trung học cậu là một học sinh rất giỏi. Rồi không hiểu sao năm cuối phát bịnh tưng tưng bỏ thi đại học luôn, ở nhà cùng mẹ làm ruộng vườn và nuôi vịt đồng ở mấy doi đất dọc bờ kênh. Có lẽ học quá hóa rồ theo cách nói dân gian. Từ khi mẹ cậu mất thì cậu trở nên lầm lì hơn và vẫn chăn vịt đồng trên kênh.
Cô bé Út tên Điệp là đứa trẻ tôi thích nhất trong đám con ông Sáu Đực. Đó là một cô gái đa tài, năng động, hoạt bát và ngang tàng. Ngoài học giỏi mà võ cũng giỏi, lại thêm thích ca hát, ưa sinh hoạt cộng đồng. Đám bạn bè của cậu Hai Đảm cũng phải kiêng dè cô bé. Cô bé thủ khoa năm nào, sau khi tốt nghiệp đại học dám từ bỏ lời mời làm việc tại một hãng nước ngoài để cùng bạn bè hợp tác kinh doanh. Hiện cô là chủ gian hàng nông thủy sản tại khu phố chợ. Mấy cậu con trai của chú Khởi cuối xóm chết mê chết mệt cô bé vì cô bé xinh xắn lại hay giúp đỡ họ, ấy vậy mà cứ xáp nhậu với nhau thì y như rằng các cô cậu lại cãi nhau chí chóe, nhưng rồi cũng vẫn nể và mê cô bé.
Hôm rồi tại buổi họp tổ dân phố do xã tổ chức, vấn đề các hộ lấn chiếm kênh làm cản trở lưu thông thủy được đưa ra. Gay gắt nhất là vụ hộ ông Phát đã công khai bồi đắp mấy doi đất để xây dựng kiên cố. Thằng con ông đang tại chức trong quân đội ngang nhiên kéo mấy xà lan chở đất cát đến rồi neo đậu ngang ngược giữa kênh. Từ lâu bà con trong vùng bức xúc kêu ca lên xã mà có thấy ai dám xuống dẹp bọn ngang ngược đó đâu. Trong buổi họp đó khi các hộ khác đấu thẳng thừng với ông Phát về việc lấn chiếm lòng kênh gây cản trở lưu thông làm ăn của mọi người thì thằng Hai Đảm ngồi im re. Có lẽ do nó còn đang làm ăn với mấy thằng con ông Phát nên cả nể.
Vẻ mặt của thằng Hai Đảm nghệt ra khi mọi người nói về mấy doi đất ông Phát xây lấn, mà trước đây từng là của nhà nó. Nó không thể nào quên ngày mẹ nó mất khi bà hay tin mấy thằng con ông Phát phá mấy cái chòi vịt của bà. Cả đời bà tần tảo bám ruộng, bắt ốc nuôi vịt đều dựa vào mấy doi đất đó. Ông Sáu lúc đó đang ở cùng đội sản xuất với ông Phát ở tập đoàn (hợp tác xã). Bà Sáu, khi đó dù đang mang bầu con bé Điệp, đã cùng thằng cu Được vác đòn gánh ra cản mà không được. Bà uất ức sinh bịnh, rồi thai nghén sanh nở, yếu lại yếu thêm nên bà ra đi trong sự giận tủi.
Sau khi hoàn thành chuyến công cán của tập đoàn chúng tôi cùng trở về, ông Sáu bất ngờ sụp đổ trước sự mất mát quá lớn của gia đình ông. Thằng cu Được thì đang gào thét bên thi hài mẹ nó, con bé Điệp thì ngặt nghẽo tím bầm đòi vú mẹ, còn thằng Hai Đảm thì điên tiết uýnh lộn với đám con nhà ông Phát sặc máu mồm. Ông bần thần đờ người lo mai táng cho vợ rồi cũng sinh bịnh liệt giường mà không có thuốc thang nào trị vì nghèo. Trong nhà giờ tất cả chỉ cậy nhờ vào  thằng Hai Đảm.
Sau khi đi nghĩa vụ quân sự và tham gia chiến tranh biên giới trở về, Hai Đảm có thời gian tham gia công tác tại địa phương. Nhưng thu nhập quá ít trong khi cha thì bịnh liệt giường, các em quá nhỏ, nên Hai Đảm quay sang làm đủ nghề để cứu cuộc sống gia đình nó. Từ khuân vác, chạy giao mối, buôn hàng biên giới đến cò đất… nó đều lăn vào vật lộn.
Lo cho cuộc sống gia đình tạm ổn, các em học hành xong, Hai Đảm ki góp ít vốn tùng tam tụ ngũ với đám con ông Ba Phát nhận thầu xây dựng. Trúng được mấy dự án xây dựng tốt nên Hai Đảm đã tích góp được số vốn kha khá nó liền tham gia chơi chứng khoán, rồi cho vay. Cuộc sống gia đình ông Sáu không những ổn định mà còn khang trang. Cậu cu Được bịnh tình giảm hẳn, ở nhà lo ruộng vườn và chăm sóc ông Sáu. Cô bé Út Điệp có sạp chợ, hàng bán mối mang nhiều nên cũng khá giả, đã phụ được anh Hai lo cho gia đình
Vậy mà giờ đây gia đình ông Sáu lại gặp tình cảnh oái ăm nên phải trông chờ vào nó, anh Hai lớn trong nhà. Điều làm cho Hai Đảm uất nghẹn ở đây không phải vì mấy doi đất kia, mà vì sau bao năm hợp tác cùng nhau, giờ nó mới thấy rõ bộ mặt thật của chiến hữu cùng chí hướng mà nó tin tưởng tuyệt đối. Trước đây nó với đám con ông Phát đã từng đánh nhau vỡ mồm và kịch không thèm dòm nhau nữa. Nhưng cuộc sống xô đẩy, nó lại liên kết với chúng để làm ăn cùng nhau và phải công nhận cũng đã đạt thành quả mỹ mãn. Rồi chúng nó cùng nhau dự tính đầu tư lớn chuyển hóa cả một vùng xóm kênh này thành một khu đô thị chuẩn về cảnh quan và môi trường sống. Hai Đảm rất háo hức với dự án này, vì theo đó gia đình nó và cả mười mấy hộ láng giềng sẽ được hưởng lợi rất lớn theo cách tính toán của chúng nó.
Nếu đúng theo toan tính của cậu Hai Đảm khi dự án thành công, cậu sẽ giao đất này lại cho cu Được chăm nom phát triển vì bé Út Điệp sẽ theo chồng, còn cậu sẽ mua nhà và ở trên phố để tiện giao thương quốc tế!, rồi lấy vợ sanh con, ôi một giấc mơ tuyệt đẹp.
Nhưng giờ đây giấc mơ đã sụp đổ hoàn toàn trước mắt Hai Đảm bởi đám con ông Phát đã hành động quá sức càn rỡ nên bị cả xóm và chánh quyền phản ứng. Hai Đảm đau nhất là chúng nó lại chọn ngay chính đất nhà mình để bày vẽ triển khai dự án, bởi cũng chính vì nó là đứa nhiệt tình, toàn tâm toàn ý theo dự án Phương Đông Tươi hồng với chúng ngay từ đầu.
Chiều nay, Hai Đảm lầm lũi vác rìu ra sát bờ rào ranh đất nhà nó. Trên kênh thằng cu Được đang lướt chiếc xuồng nhôm do một nhà từ thiện tặng nó, lùa đàn vịt đồng về để tránh chúng bị bắt mất khi bơi lố lên phía doi đất cũ đã bị lấn chiếm. Vẳng xa từ cuối xóm tiếng cười khanh khách của con bé Út Điệp đang tụ tập cùng đám thanh niên sinh hoạt tập thể. Hai Đảm lặng lẽ bổ từng nhát, từng nhát xuống hàng rào. Nó đang chêm thêm cây cho vững bờ rào bao bọc đất nhà nó.
Tiếng đóng cọc rào của thằng Hai Đảm vang vang khuấy động cả xóm kênh, âm thanh cứ như nghèn nghẹn vang trong sắc hồng đang lịm dần của buổi chiều hoàng hôn.

Saigon, June 12, 2015



Tuesday, November 11, 2014

LAK LAKE IN THE CENTRAL HIGHLAND VIETNAM



Lak Lake is about 50km to the southeast of Buon Ma Thuot, and is firmly established on the itineraries of most of the group tour operations in the area. It's a large, scenic lake and there are enough activities going on around it to keep you busy for a day or two if want to do everything. Activities are based out of the tourist village on the southern side of the lake. The village has three-star accommodation, with a swimming pool and a very good floating restaurant where we had a fine affordable meal. There are also a couple of traditional longhouses you can spend the night at, along with some guesthouse style rooms near the main reception building.



Activities include riding in a dugout canoe -- US$10 for 2 people, they supply the rower. Gong shows with rice-wine drinking and a roast pig are available for US$60 for groups of up to 30. Elephant rides are US$30 per hour, per elephant, two passengers maximum. Trekking in the surrounding mountains is available for US$20 per person per day, and bike rentals include a map you can follow -- along the route is a rocky cliff at the base of which there's good swimming. It costs 25,000 VND for 1/2 day, 40,000 for a full day, or 10,000 per hour. A M'nong village 1.6km further down the main road from the lake can also be visited, but it's not much of a stand out as far as ethnic villages in the area go.
More details
50km southeast of Buon Ma Thuot
How to get there: If you have your own transport, you can reach Lak Lake by heading north from the roundabout on Nguyen Tat Thanh St in Buon Ma Thuot. About two kms up the road is Nguyen Van Cu St -- take a right. About 2.5 km down the road there's a turnoff for Route 27 which leads 47km down to Lak Lake. Some of the road is still fairly rough, but the views are quite scenic. When you get to the lake, circle around to the far side to find the facilities and accommodation. It's cheap and easy, though time-consuming, to get here by local bus as well. Buses leave from Phan Dinh Giot St, which is south of the traffic circle, just south of Buon Ma Thuot's post office. Buses leave from the south side of the street near the intersection with Le Hong Phong: 10,000 VND, makes a lot of stops, takes about two hours. From Lak Lake you can flag down any northbound bus heading up route 27. You can arrange tours of the lake from Buon Ma Thuot or contact Lak Lake Tourist directly. Lak Lake Tourist: T: (050) 586 184, 550 F: (050) 586 343.


Thursday, October 30, 2014

The Lak lake on Western highland in Vietnam

The Lak lake on Western highland in Vietnam 

Hồ Lắk nằm bên thị trấn Liên Sơn (hay Lạc Thiện) huyện Lắk, cạnh tuyến đường giao thông giữa Buôn Ma Thuột và Đà Lạt, cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 56 km về phía Nam theo quốc lộ 27. Qua đèo Lạc Thiện khoảng 10 km trước khi vào thị trấn Lạc Thiện sẽ nhìn thấy hồ nằm bên tay phải. Còn không gian của khu rừng lịch sử, văn hóa, môi trường hồ Lắk còn bao trùm các xã Bông Krang, Yang Tao, Đắk Liêng.
Đây là hồ tự nhiên có độ sâu lớn nhất còn hơn cả Biển Hồ (tỉnh Gia Lai). Dân tộc bản địa ở đây còn có cả một huyền thoại nói hồ sâu không đáy hoặc thông qua tận Biển Hồ. Hồ rộng trên 5 km²[1], được thông với con sông Krông Ana. Mặt hồ luôn xanh thắm, xung quanh hồ được bao bọc bởi những dãy núi cao nên mặt nước hồ luôn phẳng lặng và có các cánh rừng nguyên sinh rộng lớn với hệ động thực vật phong phú.
Nơi đây có món đặc sản là chả cá thát lát hồ lăk, loài cá này đem làm chả cho độ dẻo và thơm rất đặc biệt. Với sự phong phú về nguyên liệu, người M'nông chế biến nhiều món ăn đặc sắc như: gỏi cà đắng cá cơm, cơm lam, canh tro, canh rêu đá...
Dọc theo bờ hồ Lak ( đoạn từ buôn Lê đến cổng chào khu văn hóa - du lịch buôn Jun), nơi được xem là “mặt tiền” để ngắm toàn cảnh hồ Lak, nhưng có vô số bãi rác là phế phẩm nông sản như vỏ, cùi ngô, rơm rạ, vỏ mía được người dân sau khi xay xát chất thành đống xả thẳng xuống bờ hồ. Rác thải từ đây ngấm nước trôi nổi lênh láng một góc mặt hồ; màu nước chuyển sang vàng đục, sủi bọt, khiến đến cả rong rêu, vi tảo cũng không thể sống được. Theo tìm hiểu, tình trạng người dân sống dọc bên hồ sản xuất nông nghiệp sau thu hoạch, xay xát thường xả rác thải ra dọc bờ hồ Lak đã trở thành thói quen thường ngày.
Vấn đề là giải quyết như thế nào?