LỊCH SỬ VIỆT CHƯA BAO GIỜ NHẮC ĐẾN
- HAY NỖI BUỒN CỦA TỘC VIỆT
CỘI NGUỒN GỐC
TÍCH
Ngày nay không ai phủ nhận văn minh Trung Hoa là một trong
3 nền văn minh đầu tiên của nhân loại. Để đạt được vinh danh đó, tại vùng đất
Trung nguyên (Trung Hoa ngày nay) những bộ tộc cường thịnh phát triển, tổ chức
xã hội dần mang nét văn minh và có ảnh hưởng nhất định đến các vùng đất xung
quanh, tới những bộ tộc khác chưa phát triển kịp.
Dân tộc Trung Hoa thời
xưa bao gồm ba bộ tộc chủ yếu, họ gọi là Hoa Hạ, Đông Di và Miêu Man. Trải qua các
cuộc giao tranh và hòa hoãn không ngừng, Hoàng Đế (cách gọi theo sử tích), ông
đã lãnh đạo tộc Hoa Hạ cuối cùng cũng giành được địa vị bá chủ và văn hóa,
chính trị của tộc người này đã được giữ vai trò chủ lưu trên vùng đất
Trung nguyên. Hai tộc người Đông Di và Miêu Man không thể tranh giành được
quyền lực đành xưng thần, bị buộc phải tiếp thu văn minh từ tộc Hoa Hạ.
Còn theo ý diễn nghĩa về
ngữ nghĩa văn học thì cho rằng, thời viễn cổ, văn hóa có được thông qua lịch
thời vụ, phong tục cúng lễ, giao tiếp lễ nghĩa đã định ra thứ bậc cao thấp khác
nhau giữa các tộc người. Cho nên, vùng đất có văn hóa cao được xưng là Hạ, cũng
như vậy, dân tộc có văn hóa cao được xưng là Hoa. Hoa và Hạ hợp lại để chỉ
Trung quốc, trung tâm vùng đất quốc gia. Ngược lại, với các vùng đất xung quanh
do dân tộc sống ở vùng văn hóa thấp, cho nên mới gọi theo lối ngạo mạn, khinh
miệt là Đông Di, Miêu Man (Nam
man), Tây Nhung, Bắc Địch.
Về sau Hoa Hạ không
ngừng mở rộng bằng nhiều cuộc chiến liên miên và cũng theo đó phát triển, các
dân tộc xung quanh dần đều tiếp thu văn hóa Hoa Hạ, đại bộ phận đều gia nhập
truyền thống văn hóa Hoa Hạ, Hoa Hạ dần trở thành tượng trưng cho văn minh
Trung Hoa.
LỊCH SỬ CÁCH GỌI BÁCH VIỆT VÀ SỰ HÌNH THÀNH QUỐC GIA NAM VIỆT
Lịch sử Trung Hoa trải qua
bao phen chinh chiến, dời đổi bể dâu, trên vùng đất Trung nguyên cũng đã hình
thành 7 quốc gia (thất hùng) và cùng nhau đi vào thời kỳ Chiến quốc mang tính
lịch sử hào hùng truyền tụng tới ngày nay.
Ở phía nam nước Sở (một trong
thất hùng) là một vùng đất rộng lớn nhiều dãy núi hiểm trở và giáp biển. Vùng
đất đó được gọi là vùng Lĩnh Nam
nơi có nhiều bộ tộc nhỏ với nét phong tục riêng, sinh hoạt cuộc sống khác biệt
với văn hóa Hoa Hạ, nên được gọi là Bách Việt – trăm tộc Việt
Vậy, giá trị thực tiễn của
khái niệm "Bách Việt" là gì?
Chúng ta không tài nào giải thích nổi về sự nối kết giữa các cộng đồng dân tộc trong "Bách Việt" ở toàn vùng LĩnhNam , nếu như họ chưa từng có một
kinh nghiệm nối kết cộng đồng về chủ quyền cùng một lãnh thổ.
Kinh nghiệm đó - may thay - là có thực trong lịch sử, và đã từng có!
Chúng ta không tài nào giải thích nổi về sự nối kết giữa các cộng đồng dân tộc trong "Bách Việt" ở toàn vùng Lĩnh
Kinh nghiệm đó - may thay - là có thực trong lịch sử, và đã từng có!
Sau khi thống nhất 7
nước, Tần Thuỷ Hoàng bắt tay bình định vùng
đất Bách Việt ở Lĩnh Nam.
Năm 218 trước Công Nguyên,
Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư (屠睢) làm chủ tướng, chỉ huy 50 vạn quân đi bình định
miền Lĩnh Nam.
Khi Đồ Thư chiếm được vùng đất Lĩnh Nam, Tần Thủy Hoàng lập ra 3 quận mới là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (đông
bắc Quảng Tây) và Tượng quận (tây nam Quảng Tây). Đồ Thư chiếm
được nhiều vùng đất đai nhưng cuối cùng lại bị tử trận.
Tần Thủy Hoàng tiếp tục sai Nhâm Ngao (壬嚣) cùng Triệu Đà đến cai trị vùng Lĩnh Nam
vừa chiếm được. Nhâm Ngao làm Quận úy quận Nam Hải.
Quận Nam Hải gồm 4 huyện Bác La, Long Xuyên, Phiên Ngung và Yết Dương; trong đó huyện Long Xuyên có vị trí
quan trọng nhất về địa lý và quân sự, được giao dưới quyền Triệu Đà làm Huyện
lệnh.
Triệu Đà (chữ Hán: 趙佗, 257 TCN - 137 TCN), tự Bá Uy (chữ Hán: 伯倭),
hiệu Nam Hải lão phu (chữ Hán: 南海老夫),
danh hiệu Triệu Vũ đế (chữ Hán: 趙武帝).
Triệu Đà vốn là người Trung Hoa (sau này gọi là người Hán),
quê ở huyện Chân Định (真定), quận Hằng Sơn
(恒山), đời nhà Tần (ngày nay là
huyện Chính Định (正定),
tỉnh Hà Bắc), miền Bắc Trung Quốc.
Sau khi tới
thủ phủ Long Xuyên nhậm chức, Triệu Đà áp dụng chính sách "hoà tập Bách
Việt" đồng thời xin Tần Thủy Hoàng di dân 50 vạn người từ Trung nguyên đến vùng này,
tăng cường chính sách "Hoa Việt dung hợp" (hòa lẫn người Hoa Hạ và người Lĩnh Nam ).
Năm 208 TCN, Quận uý Nam Hải
là Nhâm Ngao bị
bệnh nặng, trước khi chết ông cho gọi Triệu Đà đang tạm thời làm Huyện lệnh
Long Xuyên đến, dặn dò đại ý rằng:
Vùng đất
Nam Hải có núi chắn, có biển kề, rất thuận lợi cho việc dựng nước và phòng thủ
chống lại quân đội từ Trung Nguyên (tức
khu vực trung ương Trung Quốc) đánh xuống,
và đồng thời chính thức bổ
nhiệm Triệu Đà nối quyền cai trị quận Nam Hải.
Không lâu, Nhâm Ngao chết,
Triệu Đà gửi lệnh đến quan quân các cửa ngõ Lĩnh Nam,
canh giữ phòng chống quân đội Tần ở Trung nguyên xâm phạm, và nhân dịp đó, giết
và loại bỏ hết những quan lại do nhà Tần
bổ nhiệm ở Lĩnh Nam, cho tay chân của mình thay vào những chức vụ đó.
Năm 208 TCN,
Triệu Đà đánh thắng nước Âu Lạc của An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải. Theo truyền thuyết, sau khi nghe
tin nàng Mỵ Châu bị cha là An Dương Vương giết, Trọng Thủy (con trai Triệu Đà) đã nhảy
xuống giếng tự vẫn để trọn tình với vợ là Mỵ Châu.
Tới nay cái giếng đó vẫn còn tồn tại và được giữ gìn tại Quảng Đông, Trung Quốc.
Năm 207 TCN, Triệu Đà cất quân
đánh chiếm tiếp các quận Quế Lâm, Tượng quận; tự xưng là "Nam Việt Vũ Vương", lập nên nước Nam Việt và cai trị nước
Nam Việt suốt giai đoạn 207-137 TCN.
Năm 196 TCN, sau khi thắng
Hạng Vũ, thống nhất Trung Nguyên, Hán Cao Tổ Lưu Bang sai quan đại phu Lục Giả đi
sứ đến nước Nam Việt khuyên Triệu Đà quy phục nhà Hán.
Sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chép:
Vũ Vương
vốn là người kiêu căng, có ý không muốn phục nhà Hán,
đến khi Lục Giả sang đến nơi, vào yết kiến Vũ Vương, Vũ Vương
ngồi xếp vành tròn, không đứng dậy tiếp. Lục Giả thấy vậy mới nói rằng:
"Nhà vua là người nước Tàu, mồ mả và thân thích ở cả châu Chân Định. Nay
nhà Hán đã làm vua thiên hạ, sai sứ sang phong vương cho nhà vua, nếu nhà vua
kháng cự sứ thần, không làm lễ thụ phong, Hán đế tất là tức giận, hủy hoại mồ
mả và giết hại thân thích của nhà vua, rồi đem quân ra đánh thì nhà vua làm thế
nào?" Vũ Vương nghe lời ấy vội vàng đứng dậy làm lễ tạ, rồi cười mà nói
rằng: "Tiếc thay ta không được khởi nghiệp ở nước Tàu, chứ không thì ta
cũng chẳng kém gì Hán Đế!"
Được Lục Giả khuyên, Triệu
Đà chịu nhận ấn tước Nam Việt Vương (chúa đất vùng Nam Việt) của Hán Cao Tổ gửi,
thần phục nhà Hán, đưa Nam Việt thành một nước chư hầu (nhưng
chỉ trên danh nghĩa) của nhà Hán. Từ đó, Nam Việt và nhà Hán trao đổi sứ giả,
cống triều và buôn bán.
Hán Cao Tổ Lưu Bang và Hán
Huệ Đế Lưu Doanh chết đi, Lã Hậu nắm
quyền, bắt đầu gây sự với Triệu Đà.
Lã Hậu ra lệnh cấm vận với nước Nam Việt.
Triệu Đà thấy Lã Hậu có thể qua nước Trường Sa mà thôn tính Nam Việt.
Thế là Triệu Đà bèn tuyên bố độc lập hoàn toàn khỏi nhà Hán, tự xưng "Nam Việt Vũ Đế" và cất quân
đánh nước Trường Sa, chiếm được mấy huyện biên giới
của Trường Sa mới chịu thôi.
Lã Hậu bèn sai đại tướng
Long Lư hầu là Chu Táo đi đánh Triệu Đà. Quân lính Trung Nguyên không quen khí
hậu nóng nực và ẩm thấp miền nam, ùn ùn đổ bệnh, ngay dãy núi Ngũ Lĩnh cũng
chưa đi qua nổi. Một năm sau, Lã Hậu chết, mưu đồ đánh Triệu Đà của quân nhà
Hán bỏ hẳn.
Lúc đó Triệu Đà dựa vào
tiếng tăm tài quân sự của mình lừng lẫy cả vùng Lĩnh Nam,
lại nhờ tài hối lộ của cải, làm cả Mân Việt và
phía Tây nước Âu Lạc cũ ùn ùn quy thuộc Nam Việt. Lúc ấy nước Nam Việt
bành trướng đến mức cực thịnh. Triệu Đà bắt đầu lấy tên uy Hoàng Đế mà ra lệnh
ra oai, thanh thế ngang ngửa đối lập với nhà Hán.
Nước Nam Việt bấy
giờ, bao gồm từ dãy núi Nam Lĩnh
(Hồ Nam, Trung Quốc), phía tây đến Dạ Lang (Vân Nam, Trung
Quốc), phía nam đến dãy Hoành Sơn (Hà Tĩnh, Việt Nam), phía đông
đến Mân Việt (Phúc Kiến, Trung Quốc). Thủ đô nước Nam Việt lúc ấy
là thành Phiên Ngung (thành phố Quảng Châu ngày nay).
Một số tài liệu nghiên cứu
ngày nay cho rằng vùng đất miền Bắc Việt Nam bây giờ nằm trong quận Tượng 象郡 của nước Nam Việt lúc đó.
Năm 137 TCN, Nam Việt
Vương Triệu Đà qua đời, sống được ước chừng hơn trăm tuổi (theo Đại Việt Sử ký
Toàn thư là 121 tuổi), chôn ở Phiên Ngung (tức thành phố Quảng Châu
ngày nay).
Triệu Đà chết đi, con cháu
tiếp tục được 4 đời vua Nam Việt, cho đến năm 111 trước Công Nguyên mới bị nhà
Hán chiếm.
Như vậy lịch sử đã minh
chứng Triệu Vũ Đế - Triệu Đà đã lập nên một quốc gia hùng mạnh cho các dân tộc
Bách Việt ở phía nam Trung Hoa – Nước Nam Việt.
Quốc gia đó là quốc gia
đầu tiên dám chống Tần ngay khi Tần Thủy Hoàng còn sống – vị hoàng đế tàn ác
nhất văn minh Hoa Hạ.
Quốc gia đó cũng là quốc
gia đầu tiên dám chống và xâm lấn nhà Hán của Lưu Bang, thật kiêu hãnh.
TIẾP NỐI LỊCH SỬ KIÊU HÙNG NƯỚC NAM VIỆT – HỒN
BÁCH VIỆT
Nói cách khác, qua Triệu
Vũ Đế - Triệu Đà, khái niệm "Bách
Việt" đã tìm được một không gian cùng nhau sinh tồn, cùng dựng xây ý
thức chủ quyền trong một quốc gia định danh là NAM VIỆT - tồn tại cả một thế kỷ
(từ năm 207 đến năm 111 trước Công nguyên).
Nhờ có CHUNG KÝ ỨC VỀ MỘT
THẾ KỶ NAM VIỆT 南
越 dưới đời Triệu Đà
trước đó, Một trăm năm ấy đủ dài để gầy dựng một sự liên kết "máu
thịt" trong các nhóm tộc thuộc Bách Việt, chảy ngầm ý thức độc lập và phản
kháng với văn minh Hoa Hạ.
Để đến năm 40, theo lời
hiệu triệu của Hai Bà Trưng, là đồng loạt bùng lên!
Từ đồng bằng sông Hồng cho
đến Lưỡng Quảng - dưới lá cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng - lúc bấy giờ các tộc
người Bách Việt đã nhìn nhau trong ý niệm chung một quốc gia!
![]() |
| Đền Hát môn, Hà Nội, VN - Nơi thờ Hai Bà Trưng |
Lĩnh Nam rộng lớn 65 thành mà Hai Bà Trưng thu phục, xin
chú ý, đó gần như "ăn khớp" với lãnh thổ được xác lập dưới thời nhà
Triệu với quốc hiệu NAM VIỆT 南 越, bao gồm các quận: Nhật
Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ, Hợp Phố, Thương Ngô, Uất Lâm, Nam Hải. Phải hiểu rõ
rằng, lịch sử đã ghi chép về lãnh thổ LĨNH NAM của Hai Bà Trưng thu phục năm ấy
không chỉ có mỗi đồng bằng sông Hồng kéo dài tới Nghệ An, Hà Tĩnh như sách sử
hiện đại đang dạy cho con trẻ Việt Nam đâu.
Minh
chứng cho điều đó là bài thơ "Nam
hoàn chí Ngũ Lĩnh" (về Nam
đến rặng núi Ngũ Lĩnh) của Nguyễn Thực (1554 - 1637) người làng Vân Điềm (tên
nôm là làng Đóm), nay thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh. Ông đỗ tiến sĩ nhị giáp
khoa thi đình đầu tiên của nhà Lê Trung hưng mở tại Thăng Long (năm 1595), bài
thơ được làm trong thời gian đi sứ Tàu:
Ngũ Lĩnh điêu nghiêu trấn Việt thùy
Hứa đa cảnh trí chiếm thanh kỳ
Uất thông đông hậu thùy thiên cán
Nùng diễm xuân tiền mai nhất chi
Đồng trụ Trưng vương lưu cựu tích
Thạch nhai Trưng tướng phục tùng từ
Phong cương tự cổ phân trung ngoại
Thậm tiễn thiên công xảo thiết thi
Dịch:
Núi Ngũ Lĩnh chất ngất trấn ở vùng biên cương đất Việt
Biết bao cảnh trí tươi tắn kỳ lạ
Sau mùa đông ngàn cây tùng xanh um
Trước mùa xuân một nhành mai diễm lệ
Cột đồng còn lưu dấu cũ Trưng Vương
Đường đá nghiêng bên ngôi đền Trưng tướng
Chốn biên cương từ xưa phân rõ trong, ngoài
Rất phục thợ trời sao khéo đặt bày.
Ngũ Lĩnh điêu nghiêu trấn Việt thùy
Hứa đa cảnh trí chiếm thanh kỳ
Uất thông đông hậu thùy thiên cán
Nùng diễm xuân tiền mai nhất chi
Đồng trụ Trưng vương lưu cựu tích
Thạch nhai Trưng tướng phục tùng từ
Phong cương tự cổ phân trung ngoại
Thậm tiễn thiên công xảo thiết thi
Dịch:
Núi Ngũ Lĩnh chất ngất trấn ở vùng biên cương đất Việt
Biết bao cảnh trí tươi tắn kỳ lạ
Sau mùa đông ngàn cây tùng xanh um
Trước mùa xuân một nhành mai diễm lệ
Cột đồng còn lưu dấu cũ Trưng Vương
Đường đá nghiêng bên ngôi đền Trưng tướng
Chốn biên cương từ xưa phân rõ trong, ngoài
Rất phục thợ trời sao khéo đặt bày.
Tác giả
viết bài này sau khi đi sứ về tới dãy núi Ngũ Lĩnh ở Trung Quốc, tức dãy núi
làm ranh giới hai nước Sở, Việt thời cổ. Nước Sở là khu vực tỉnh Hồ Nam (phía Nam hồ Động Đình) và nước Việt là
khu vực tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay. Về tứ thì đây là bài thơ đẹp một
cách hồn hậu. Có thể, khi đó là cuối mùa đông nhưng gió xuân đã thổi nên tùng
bách vẫn xanh um, mà một bông hoa mai trắng đã nở chào mùa xuân mới đang tới.
Song, cần lưu ý tới một chi tiết về lịch sử ở câu thứ 5 - Cột đồng lưu dấu cũ Trưng Vương. Trưng Vương ở đây chính là vua Bà Trưng Trắc của chúng ta, người đã giành lại độc lập cho đất nước và làm vua trong 3 năm, từ năm 40 đến 43.
Song, cần lưu ý tới một chi tiết về lịch sử ở câu thứ 5 - Cột đồng lưu dấu cũ Trưng Vương. Trưng Vương ở đây chính là vua Bà Trưng Trắc của chúng ta, người đã giành lại độc lập cho đất nước và làm vua trong 3 năm, từ năm 40 đến 43.
Hơn nữa, trong sách “Đại Việt sử ký tiền biên”, Ngô
Thì Nhậm có lời bình: “Cho nên tiếc
Ngũ Lĩnh, là tiếc cái sau khi bà Trưng mất”. Ngũ Lĩnh là tên hệ thống
các dãy núi chạy qua các tỉnh Hồ Nam , Quảng Đông và Quảng Tây của
Trung Quốc.
Theo các sử gia thời phong kiến quan niệm: dãy Ngũ
Lĩnh chính là ranh giới phía Bắc của nước Việt ta thời nhà Triệu và thời Trưng
Vương, ngăn cách với lãnh thổ nhà Hán (Trung Quốc).
Ngợi ca Hai Bà Trưng, sử
gia Lê Văn Hưu viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: "Việc dựng nước xưng
vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp
bá vương...".
Vậy mà ông lại viết thêm: "Tiếc rằng nối sau họ Triệu (kết thúc năm 111 TCN) cho đến trước họ Ngô (năm 938), trong khoảng hơn nghìn năm thì nam nhi chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là nữ nhi hay sao?".
Vậy mà ông lại viết thêm: "Tiếc rằng nối sau họ Triệu (kết thúc năm 111 TCN) cho đến trước họ Ngô (năm 938), trong khoảng hơn nghìn năm thì nam nhi chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là nữ nhi hay sao?".
SG, Dec, 16, 2018
Street Talk
Sưu tầm cóp nhặt



No comments:
Post a Comment