Friday, February 9, 2018

VŨ KHÍ TẦM XA - Khơi mào các cuộc chiến

PHẦN II: VŨ KHÍ TẦM XA - Khơi mào các cuộc chiến
Trong quá trình tìm hiểu lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới, chúng ta sẽ rút ra được nhiều bài học, nào là chánh nghĩa, nào là phi nghĩa, nào là “thần thánh”, “anh hùng dân tộc”… Với tôi duy nhất chỉ tìm hiểu vì sao Ai? Và vũ khí nào? Đã quyết định khơi mào các cuộc chiến tranh. Và tôi đã cảm nhận được đó chính là: VŨ KHÍ TẦM XA
Sau phần I về ĐẠO QUÂN MÔNG CỔ thì phần II về Napoleon Bonaparte sẽ giúp các bạn hiểu thêm
Napoléon Bonaparte - Biệt danh là Nabulio
có nghĩa là “con sư tử hoang dã”
Trên đà các cuộc chinh phục từ cuộc Cách mạng tư sản năm 1789, nước Pháp đã phát triển sức mạnh của mình rất nhanh khi đội quân của Napoléon chinh phục được phần lớn châu Âu.  Các cuộc chiến tranh của Napoléon, hay thường được gọi tắt là Chiến tranh Napoléon là một loạt các cuộc chiến trong thời Hoàng đế Napoléon Bonaparte trị vì nước Pháp, diễn ra giữa các khối liên minh các nước châu Âu chống lại Đế chế thứ nhất của ông. Toàn bộ các cuộc xung đột này đã khiến cho tổng cộng khoảng 2,5 triệu người chết, trong đó 1,5 triệu là binh lính và 1 triệu thường dân.
Napoléon với tư cách là một nhà quân sự, một nhà chính trị lừng danh của nước Pháp cận đại, ông đã để lại những dấu ấn to lớn đối với lịch sử loài người. Trong hơn 20 năm cuộc đời hoạt động tại các chiến trường ở Châu Âu, vết chiến xa của ông đã in khắp cả vùng lục địa Châu Âu, từ bán đảo Isberia đến sông Vistula, từ Địa Trung Hải đến biển Balitc. Sức ảnh hưởng ấy được ví với hình ảnh: “Nếu ông hắt hơi một cái, cũng đủ làm cho cả Âu Châu bị cảm lạnh”. Rõ ràng với tầm vóc to lớn ấy, những hoạt động thực tiễn quân sự của ông đã góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển của bộ môn khoa học quân sự, vào kho tàng khoa học quân sự sau này.
Tuy nhiên, sự thất bại còn nhanh hơn, bắt đầu từ sau thảm họa của cuộc tiến công vào nước Nga năm 1812 cho đến thất bại quyết định trong trận Waterloo năm 1815, Đế chế của Napoleon cuối cùng đã bị đánh bại hoàn toàn về quân sự và kết quả là sự phục hưng của vương triều Bourbon ở Pháp.
Chiến tranh Napoléon đã giúp cách mạng hóa lực lượng quân đội các nước châu Âu, trong đó có việc sử dụng pháo binh (nâng tầm tác chiến chủng loại vũ khí tầm xa) cũng như việc xây dựng các tổ chức quân sự.



1-    Xây dựng chế độ quân dịch
Với một quy mô chưa từng thấy, các định chế chiến tranh, các tổ chức quân sự đã nhanh chóng được xây dựng và củng cố các quân đoàn thành các sư đoàn, trung đoàn - chủ yếu là nhờ vào việc áp dụng chế độ cưỡng bách tòng quân số lượng lớn (hiện tại nhiều quốc gia vẫn áp dụng – đó là chế độ quân dịch).
Năm 1797, Napoleon thành lập 23 sư đoàn theo vị trí địa lý. Hệ thống này được Napoleon duy trì và mở rộng khi chiếm được thêm lãnh thổ các nước láng giềng, tăng lên 32 sư đoàn vào năm 1811 và thêm 6 sư đoàn ở vương quốc Italy.
Mỗi vùng lãnh thổ đều lấy một thị trấn lớn làm trung tâm dưới quyền điều hành của một tướng cấp sư đoàn với sự hỗ trợ của các sĩ quan người địa phương. Nhiệm vụ của họ là phụ trách vấn đề quân sự ở địa phương, bao gồm cả việc tuyển quân.
Napoleon đã củng cố việc thi hành chế độ tòng quân cưỡng bức hiện đại được đưa ra bởi Hội đồng Đốc chính. Khi nhà Bourbon phục hưng một trong các chiếu chỉ đầu tiên là chấm dứt nó.
2-    Nâng vai trò của pháo binh – vũ khí tầm xa và uy lực
Quân đoàn được thay thế bởi sư đoàn làm đơn vị quân đội lớn nhất, và pháo tự hành được tích hợp vào các khẩu đội dự bị, hệ thống nhân sự trở nên linh hoạt hơn và kỵ binh trở lại làm một đội hình quan trọng trong lý thuyết quân sự Pháp. Các phương pháp này ngày nay được xem là các đặc điểm chủ yếu của học thuyết quân sự Napoléon.
Là một trong số các tướng lĩnh đầu tiên nhận thấy pháo binh đã không được sử dụng hết tiềm năng của nó, Napoleon thường tập trung các khẩu pháo của mình thành các khẩu đội, đưa những thay đổi vào pháo binh Pháp, điều đó đã cải thiện đáng kể năng lực tác chiến của pháo binh Pháp, giúp lực lượng này trở thành lực lượng pháo binh thiện chiến nhất ở châu Âu thời bấy giờ. 
Các đối thủ của Napoléon đã học tập từ các cách tân của ông. Tầm quan trọng được tăng cường của hỏa lực pháo sau 1807 bắt nguồn từ việc ông tạo nên một lực lượng pháo có tính cơ động cao, tăng cường số lượng pháo và thay đổi trong cách vận dụng chúng. Kết quả của những yếu tố này là Napoléon, thay vì dựa vào việc nướng lính bộ binh làm xói mòn sức phòng thủ của kẻ  địch và bị hao hụt lớn về quân số, giờ có thể sử dụng hỏa lực tập trung như một mũi nhọn để khoét một lỗ thủng trong phòng tuyến của kẻ địch và sau đó khai thác lỗ thủng đó bằng bộ binh và kỵ binh hỗ trợ. McConachy bác bỏ lập luận cho rằng sự phụ thuộc vào pháo binh của quân đội Pháp tăng lên bắt đầu từ 1807 là một sản phẩm tự nhiên bởi chất lượng suy giảm của bộ binh và sau này là sự yếu thế về số lượng kỵ binh của Pháp.
Vũ khí và các loại kĩ thuật quân sự khác nhìn chung không đổi trong kỷ nguyên Cách mạng và thời Napoléon, nhưng sự vận động tác chiến của thế kỉ 18 đã chứng kiến những thay đổi đáng kể. Ảnh hưởng lớn nhất của Napoléon là trong cách ông chỉ đạo chiến tranh. Antoine-Henri Jomini đã giải thích các phương pháp của Napoléon trong một cuốn sách giáo khoa được sử dụng rộng rãi đã ảnh hướng tới tất cả các quân đội châu Âu và Mỹ. Napoléon được nhà lý thuyết quân sự đầy ảnh hưởng Carl von Clausewitz xem như một thiên tài trong nghệ thuật tiến hành chiến tranh, và các nhà sử học xếp ông vào một trong những chỉ huy quân sự vĩ đại nhất. Tướng Wellington, khi được hỏi ai là vị tướng vĩ đại nhất thời đó, đã trả lời: "Trong thời đại này, trong những thời đại đã qua, cũng như trong bất kỳ thời đại nào, đó là Napoléon".


3-    Dùng hỏa lực làm tăng quyền lực
Súng thần công đóng vai trò quan trọng trong việc tăng quyền lực cho Napoleon Bonaparte, và tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong quân đội của ông những năm sau đó. 
Ngày 14 tháng 7 năm 1789, Cách mạng tư sản Pháp bùng nổ lật đổ chế độ quân chủ, Napoleon đã tham gia tích cực vào Câu lạc bộ Jacobin, lúc này ông mang quân hàm trung úy. 
Trong những năm của cuộc Cách mạng Pháp, Hội đồng Đốc chính không được sự ủng hộ của dân chúng đã dẫn đến các cuộc bạo loạn và nổi dậy. Khi hơn 25.000 người bảo hoảng—do tướng Danican dẫn đầu tấn công và tiến hành bạo loạn tại Paris,
Tình hình trở nên hết sức nghiêm trọng, Paul François Jean Nicolas, vicomte de Barras được chọn làm người đứng đầu lực lượng phòng thủ của Paris, bị áp đảo về quân số với tỉ lệ 5-1 và vô tổ chức, những người Cộng hòa đã tuyệt vọng. 
Chính phủ quyết định bổ nhiệm Napoleon làm phụ tá cho Tử tước Barras, tư lệnh quân cảnh vệ Paris. Khi Napoleon đến, ông tổ chức lại lực lượng phòng thủ, ông nhận ra rằng nếu không có pháo thì thành phố sẽ không thể giữ được. Ông ra lệnh cho Joachim Murat (sau trở thành một trong những thống chế của ông) mang các khẩu pháo từ công viên pháo binh Sablons tới; Major và kỵ binh của ông đã chiến đấu để giành lại các khẩu pháo và mang chúng về cho Napoleon.
Khi những người lính được huấn luyện yếu kém của Danican tấn công ở số 13 Vendémiaire vào ngày 5 tháng 10 năm 1795, theo lịch Pháp vào thời điểm đó—Napoleon ra lệnh cho pháo binh của mình bắn các đạn chùm vào đám đông, một hành động sau này được gọi là "luồng đạn chùm". Với pháo binh trong tay, Napoleon đã nhanh chóng dập tắt cuộc bạo loạn. Và kể từ đó con đường công danh của ông đã rộng mở.
Cuộc tàn sát đã có ảnh hưởng lớn và kết thúc mối đe dọa đối với chính phủ mới, cùng thời điểm đó Bonaparte mới 26 tuổi, đã trở thành một nhânh vật nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng trong chánh quyền Cách mạng. 

4-    Linh hoạt sử dụng các loại đạn pháo để áp chế đối phương
Trong cuộc dẹp bạo loạn 1795 tại Paris, Napoleon trở thành người khởi xướng dùng uy lực của pháo để trấn áp và tàn sát vào các nhóm biểu tình bạo loạn đông người, ông ra lệnh cho pháo binh của mình bắn các đạn chùm vào đám đông, một hành động sau này được gọi là "luồng đạn chùm".
Trước đó năm 1793, trong trận vây hãm thành Toulon, lúc bấy giờ thành phố đang nằm trong tay quân Anh, Napoleon trực tiếp chỉ huy pháo binh nên ông có thể cho mọi người biết ông là một người có hiểu biết rộng về tác chiến quân sự .

Trận Toulon (1793)
Napoleon lúc đó đang là đại úy khi thăm các ụ pháo do viên tướng Carteaux vốn bất tài này bố trí xây dựng đã thấy ngay tầm bắn của đạn pháo không thể với tới các chiến thuyền Anh. Quân Anh chủ động tấn công vào các ụ pháo của quân Pháp nhưng tổn thất nặng nề, Napoléon truy quét và bắt được tướng O’Hara.
Trước đó Napoleon đã gửi về Bộ trưởng chiến tranh ở Paris đề xuất một mô hình lò có khả năng nung đỏ đạn đại bác đến mức có thể làm cháy thuyền địch. Mặc dù bị tướng Carteaux gây cản trở nhưng Bonaparte vẫn được tín nhiệm thăng cấp thiếu tá chỉ huy pháo binh.
Từ khi Napoleon nắm quyền chỉ huy, pháo binh Pháp bắt đầu tấn công và chiếm giữ hai pháo đài Éguillette và Balaguir, vốn ở vị trí then chốt có thể huỷ diệt mọi tàu bè tiến vào cảng. 
Ngay lập tức các hạm đội Anh trong cảng bị pháo binh tấn công bằng loại đạn đã được nung đỏ, gây hỏa hoạn khắp vùng cảng Toulon. Ngày hôm sau cũng với chiến thuật như vậy Napoléon chiếm tiếp pháo đài Malbosquet, các chiến thuyền Anh phải bỏ chạy trước khi bị đốt cháy.
Cuối năm 1795, Napoleon đuổi được quân Anh ra khỏi thành phố. Sau cuộc vây hãm đó, tiếng tăm của ông lan rộng khắp nước Pháp. ông được thăng lên cấp tướng chỉ huy lữ đoàn. Khi đó ông mới 24 tuổi.
Những chiến thuật sử dụng các loại đạn pháo khác nhau để áp chế kẻ thù đã được Napoleon sử dụng thành công, ví dụ trong trận Friedland, khi những khẩu pháo Pháp bắn khoảng 3.000 viên đạn tròn và 500 viên đạn chùm đã gây thương vong nghiêm trọng cho quân Nga, tổn thất của quân Nga là trên 20.000 người bị chết và bị thương.
5-    Vận động vũ khí tầm xa – pháo binh với kỵ binh cơ động nhanh
Ở phương Tây, loại pháo dã chiến trở nên nổi tiếng có lẽ bởi Napoleon đã sử dụng nó với bánh xe rất lớn giúp chúng di chuyển nhanh đến địa điểm cần thiết trên chiến trường và nã pháo vào đội hình của đối phương ở địa điểm thuận lợi gây mất tâm lý chiến đấu của đối phương và tăng hiệu quả tấn công cho kỵ binh, bộ binh. Vì pháo binh di chuyển nhanh đã phát huy tối đa hiệu quả và giúp ông giành chiến thắng trong nhiều cuộc chiến, Napoleon đã nói: "Bộ binh tham gia trận chiến, pháo binh quyết định nó và kỵ binh thu hoạch nó".
1796 Napoleon được bổ nhiệm làm tư lệnh đạo quân thứ 4 tiến đánh nước Ý để kiềm chế quân Áo. Trong các chiến dịch quân sự đầu tiên, Napoleon tỏ rõ là một tư lệnh sắc sảo với khả năng trí tuệ và sự linh hoạt chiến thuật cao độ. Di chuyển nhanh chóng và mưu mẹo, ông đã vượt qua các đối thủ về mặt chiến lược, tránh được những trận chiến mà ông không muốn có. Về mặt chiến thuật, ông giành được thế áp đảo trên chiến trường.
 Trong suốt chiến dịch ở Italy, ông đã đánh tan từng đội quân của Áo, sử dụng đòn vu hồi để đánh vào các vị trí phòng thủ của đối phương.
Chiến dịch ITALY (1796-1797)
11/3/1796 khi ông nhận lệnh từ Hội đồng Đốc chính, tức 3 ngày sau khi ông kết hôn với Josephine. Các tướng lĩnh lại không ưa Napoleon vì họ thấy phải phục tùng một thắng nhóc 27 tuổi là sự sỉ nhục.
Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng Napoleon vẫn rất bình tĩnh. Ông đến từng đơn vị động viên binh lính và cố gắng phát lương cho họ. Ông thay những khẩu pháo cũ kĩ bằng những khẩu pháo mới và mạnh hơn. Ông dùng nhiều cách để kích động, lấy tinh thần binh sĩ và xử bắn những kẻ nổi loạn. Vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn, quân đội của ông đã đâu vào đấy.
Hai tháng sau, ngày 10/5/1796 quân Pháp và Áo đánh nhau đẫm máu ở cầu Lodi bắc qua sông Ada. Trước khi trận đánh nổ ra, Napoleon đã đích thân đi trinh sát trận địa và đã tự tay bố trí trận địa pháo binh. Ông canh đo thật kĩ và chính xác vì ông biết chỉ có hoả lực pháo binh mới hạ được quân Áo. Đúng như ông dự kiến, hoả lực mạnh mẽ của pháo binh Pháp đã làm tê liệt quân Áo. Lúc cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ở đầu cầu thì Napoleon xông lên dẫn đầu một tiểu đoàn kỵ binh cận vệ, xông tới dưới làn mưa đạn, 20 khẩu pháo của quân Áo nhả đạn nhằm quét sạch mọi thứ trên cầu và lân cận. Lính kỵ binh cận vệ, do Napoleon dẫn đầu, đã chiếm được cầu và đánh bật được quân Áo ra xa. Sau một ngày đánh nhau đẫm máu, quân Áo vỡ trận bỏ chạy bỏ lại trên chiến trường 15 khẩu pháo và chừng 2.000 người vừa bị chết và bị thương.
Napoleon tung quân truy kích và chiếm Milan ngày 15/5/1796. Vùng Lombardie rơi vào tay quân Pháp.
Quân Pháp thừa thắng tiến lên tấn công tàn quân Áo đã chạy về thành Mantova. Sau khi bao vây suốt năm tháng trời, triều đình Áo cử ngay 40.000 quân đến giải vây. Ngaỳ 15/11/1796 tại cầu Arcole lại diễn ra trận đánh đẫm máu kéo dài đến ngày 17/11/1796. Quân Áo đại bại, phải đầu hàng vô điều kiện.
Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã đánh tan tác các đội quân Áo tại Ý và tiến vào lãnh thổ nước Áo tới sát kinh đô Viên làm nước Áo phải ký Hiệp định đình chiến. Đoàn quân chiến thắng của Napoleon trở về Paris trong vinh quang rực rỡ.
Năm 1798 Napoleon được cử làm Tư lệnh quân Đông chinh, và ông đã nhanh chóng đánh chiếm Ai Cập. Napoleon đã mang theo hơn 38.000 quân, trong đó có nhiều chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực, bao gồm cả các nhà toán học như Monge, Joseph Fourier, Laplace, Berthollet.



Viễn chinh xâm lăng Ai Cập (1798-1799)
Vào tháng 5 năm 1798, Napoléon bắt đầu cuộc viễn chinh tại Ai Cập với 38,000 quân. Các chiến thắng bắt đầu: pháo đài Malta của các hiệp sĩ Hospitallers (the Knights Hospitallers of St. John of Jerusalem) bị thất thủ vào ngày 10-6-1798, rồi thành phố Alexandria của Ai Cập đầu hàng vào ngày 1 tháng 7. Napoléon đã đánh bại các kẻ cai trị xứ Ai Cập có tên là nhóm Mamelukes, trong trận đánh tại các Kim Tự Tháp gần thành phố Cairo. Quân Mamelukes đã chạy trốn về phía nam, bỏ lại một phần pháo binh (40 khẩu pháo). Mấy nghìn xác chết phủ kín chiến trường. Rồi đồng bằng sông Nile bị chinh phục rất nhanh chóng. Quân Pháp đại thắng quân Mameluk Ai Cập.
Napoléon đã đưa quân qua Syria vào tháng 2 năm 1799, tiến tới pháo đài Acre (ngày nay là Akko, thuộc nước Do Thái) do người Thổ trấn giữ, họ được sự trợ chiến của Hạm đội Anh do Đô đốc Sydney Smith chỉ huy và đoàn quân Pháp đã bị chặn đánh thảm bại tại nơi này. Sau nhiều đợt xung phong vô hiệu, ngày 20 tháng 5 năm 1799, quân Pháp phải bỏ cuộc bao vây, tổng cộng quân Pháp đã mất 3.000 người. Bên bị bao vây còn thiệt hại lớn hơn thế nữa.
Napoléon đành phải rút về Ai Cập và khi tới Abu Qir, gần Vịnh Abu Qir, ông đã đột kích và tiêu diệt gần 15.000 quân Thổ vào ngày 25 tháng 7 năm 1799.

Trận Marengo (1800)
Đây là trận đánh quan trọng đầu tiên của Napoleon trong cương vị Tổng tài của nước Pháp. Trận đánh khởi đầu vào buổi sớm ngày 14 tháng 6 năm 1800 ở gần Marengo. Napoleon có cả thảy 20.000 quân và chỉ điều động bộ phận pháo loại tồi nhất cùng vượt đèo Grand Xanh Béc-na với ông hồi tháng 5, còn pháo binh chủ lực thì hành quân đến chậm vì bị mắc vây và đánh chiếm một cứ điểm mạnh trong núi che chở cho quân Áo. 
Quân Pháp vừa đánh vừa lùi và giáng cho quân địch những đòn đích đáng, nhưng bản thân cũng bị thiệt hại nặng. Đến hai giờ chiều, trận đánh xem chừng thất bại, không thể cứu vãn được. Gần 3 giờ chiều,  tướng Áo Melas đã ca khúc khải hoàn, cử người về Viên báo tin quân Áo toàn thắng, thu nhiều chiến lợi phẩm và tù binh, tướng vô địch Napoleon đã thất bại. Tình trạng hỗn độn đã bao trùm lên tổng hành dinh quân đội Pháp. Napoleon giữ thái độ bình tĩnh, vừa nhắc nhở cần phải cầm cự, vì trận đánh chưa kết thúc. Và đến 3 giờ chiều, tình thế đột nhiên thay đổi một cách bất ngờ, bởi sư đoàn De Saix được phái xuống phía nam để cắt đường rút lui của quân địch đang từ Giên trở về, hành quân cấp tốc quay trở lại, đã công kích ồ ạt vào quân Áo đúng giờ phút quyết định chiến trường.
Nước Áo bị bắt buộc phải ký Hòa Ước Luneville vào tháng 2 năm 1801, công nhận nước Pháp có quyền chiếm đóng các miền sông Rhine, dãy núi Alps và dãy núi Pyrenées.

Trận Ulm (1805)
Đây là chiến dịch đầu tiên của Napoleon trong vai trò Hoàng đế Pháp. Sau khi biết tin chính xác quân Nga tiến sang nước Áo, Napoléon bỏ ý định tiến sang nước Anh và hướng các lực lượng chính của mình ra chống lại cuộc liên minh quân sự lần thứ 3 (Nga – Áo). Kế hoạch của Napoléon là tiến hành phòng thủ ở Italia và tập trung lực lượng chủ yếu dưới sự chỉ huy trực tiếp của mình trên mặt trận Nadube. 
Nhờ có kế hoạch hành quân cấp tốc, tất cả đã đến nơi tập trung xung quanh thành Ulm và dồn tướng Áo là Mack cùng phần lớn quân Áo như bị nhốt trong một cái túi.
Tình thế của Mack trở nên tuyệt vọng. Napoléon cho người đến thương lượng đòi Mark phải đầu hàng và dọa nếu buộc phải đánh vào thì sẽ tiêu diệt hết. Ngày 20/10/1808, Mack đầu hàng, Napoléon thả cho Mark về, còn tù binh thì đưa sang Pháp.
Napoléon tiến thẳng đến Viên theo hữu ngạn sông Danube. Trong lúc truy kích, quân Pháp còn bắt thêm được rất nhiều tù binh. Số tổn thất của quân Áo lúc này đã lên tới 61.000 người (32.000 người ở Ulm, 29.000 người bị bắt trước khi thành Ulm thất thủ) chưa kể số bị thương, bị chết, mất tích và một số bị bắt trong quá trình truy kích.
6-    Bão lửa pháo binh – Kỵ binh chia cắt – bộ binh dọn chiến trường
Hạ thành Viên xong, Napoléon cấp tốc qua cầu, vượt sông Danube và xông thẳng vào quân Nga lúc này đang ở bên tả ngạn sông Danube, cũng vừa qua cầu. Ý định của Napoléon là chặn đường rút lui của quân Nga đang hối hả rút về phía Bắc. 
Cuộc rút lui của quân Nga là do danh tướng Nga Mikhail Illarionovich Kutuzov đề xuất nhằm đạt mục đích là cứu thoát đại bộ phận quân Nga khỏi nguy cơ bị tiêu diệt, nhưng may mắn đã đến với Napoléon khi Hoàng đế Nga Aleksanđr I đã bác bỏ việc rút lui của Kutuzov mà liều quyết định tấn công. Không những thế, Aleksanđr I còn làm một điều dại dột nữa là ủy nhiệm quyền chỉ huy quân đội cho tướng Áo Frankz Von Weyrother người đã từng bị Napoléon đánh cho thua tơi bời ở nhiều nơi, 

Trận Chiến Austerlitz-1805
Trận Tam Vương là chiến thắng lớn nhất về mặt quân sự của Napoléon. Hoàng đế Napoléon với đạo quân 73.000 người đã đánh bẹp hai đạo quân Áo và Nga dưới quyền của Hoàng đế Áo Franz II và Nga hoàng Alexander I của Nga (tổng cộng 85.000 người) vào ngày 2 tháng 12 năm 1805 gần thành phố Austerlitz, ngày nay là thành phố Slavkov u Brna của Cộng hoà Séc.
Napoléon hạ quyết tâm là bằng tác chiến hợp đồng binh chủng giữa bộ binh, kỵ binh và pháo binh, tấn công chớp nhoáng tiêu diệt quân liên minh, 
Thế là Napoléon đã bày xong thế trận vận động tấn công tiêu diệt quân liên minh với ba thế rất lợi hại: thế kìm (cánh quân của Lannes, Murat và Bécnađốt), thế công (cánh quân của của Sout và Ney), thế chặn ( cánh quân của Đavout). Că ba thế này sẽ cùng nhau phát huy tác dụng dưới sự điều khiển của Napoléon 
Bằng hỏa lực tập trung và mãnh liệt của pháo binh đặt ở trên các cao điểm, Napoléon ngay từ phút đầu đã gây nên nhiều thiệt hại lớn cho bên liên quân. Đội hình tiến công của quân Nga – Áo bỗng trở nên rối loạn. Tiếp sau cuộc nã pháo dữ dội, bất ngờ và kéo dài không lâu này, dưới sự yểm trợ của pháo binh, bộ binh và kỵ binh từ trên ba hướng chia làm nhiều mũi bắt đầu xung phong ra chia cắt đối phương từ hướng Bắc đánh ra, từ trên cao điểm (hướng tập trung ở cánh giữa) đánh xuống, từ hướng Nam đánh lên.
Napoléon đã ra lệnh nã đại bác lên mặt nước sông đã đóng băng, hàng trung đoàn quân Áo bị chết đuối hoặc làm mồi cho đạn đại bác của quân Pháp tiêu diệt. Còn một số khác thì đầu hàng. chừng 15.000 quân Nga – Áo bị giết, 20.000 bị bắt cầm tù, hầu hết pháo của liên quân bị tước và nhất là đội quân Nga – Áo đã bị tiêu diệt thực sự, số tàn quân bỏ chạy tán loạn đi tứ phía, bỏ lại rất nhiều kho tàng quân trang, quân dụng và lương thực. Đó là những nét lớn về kết quả của cuộc chiến thắng đó. Quân Pháp bị thiệt mất ngót 9.000 người .

Cách đánh của trận Austerlitz đã được mô tả đầy đủ chi tiết trong lịch sử quân sự Pháp và nó đã được nhiều danh tướng, sử gia nghiên cứu phân tích kỹ lưỡng. Một trong những người đã áp dụng cách đánh đó thành công là tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam khi ông đã vận dụng tốt pháo binh dội lửa, đào hào chia cách cứ điểm Điện Biên Phủ và dùng bộ binh áp sát giải quyết chiến trường, dành chiến thắng trước người Pháp năm 1954.

Trận Jena-Auerstad (1806)
Để đánh gục nước Phổ, Napoleon ra lệnh cho quân Pháp từ hai cánh mở gọng kềm bao vây quân Phổ, pháo binh phối hợp chặt chẽ với bộ binh, nhanh chóng chiếm ưu thế trên chiến trường. Ông đã tuyên bố:  Chúng ta sẽ làm cho toàn thế giới thấy rằng, đội hình tác chiến mới tất sẽ thắng đội hình tác chiến cũ. Tôi tràn đầy lòng tin vào việc đó” [10; tr.130]
Ngày 27/10/1806, 19 ngày sau khi chiến tranh Pháp – Phổ bùng nổ và 13 ngày sau trận Jena và Auerstad, Napoleon ca khúc khải hoàn tiến vào Berlin giữa tiếng nhạc chào mừng.
Friedrich Engels – một lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng ca ngợi tài năng quân sự của Napoleon trong trận chiến này: “Do cách đánh mới đã được Napoleon nâng lên đến mức hoàn thiện nhất, hơn hẳn lối đánh cũ kỹ, dẫn đến trận chiến ở Jena kết thúc, làm cho lối tác chiến cũ bị phá sản hoàn toàn, không cứu vãn được”.

Trận Eylau (1807)
Ngày 8/2/1807, ở gần Eylau, quân Pháp và Nga đã đánh nhau một trận dữ dội. Khi trận đánh nổ ra, quân Nga điều ra trận một lực lượng pháo binh đông gấp đôi 
Napoleon nở một nụ cười khó hiểu trên khuôn mặt sạm đen vì khói thuốc súng. Khi quân Nga đã đến gần, ông ra lệnh cho đội kỵ binh cận vệ hoàng gia Pháp lao vào cuộc chiến này. Đó là lực lượng ưu tú nhất trong quân đội Pháp. Hai bên Pháp-Nga lao vào nhau và chém giết dữ dội. Rốt cuộc, quân Pháp vẫn giữ vững trận địa và trung tâm trận đánh chia thành nhiều điểm trên chiến trường rộng mênh mông.

Trận Friedland (1807)
Napoleon nhanh chóng nhận ra sai lầm tai hại của đối phương. Vì quá vội nên quân Nga đã ùn tắc thành một khối lớn ở khuỷu sông Alle. Không do dự, Napoleon liền tiến công thẳng vào quân chủ lực đối phương. Quân Nga đã chống lại rất ngoan cường và đã tiêu diệt hoàn toàn một phần quân đoàn của Ney. Nhưng sai lầm của Bennigsen đã dẫn đến thất bại hoàn toàn. Quân Nga phải nhảy xuống sông để tránh bị tiêu diệt và hàng ngàn lính Nga đã chết đuối. Chỉ có một số nhỏ chạy trốn được. Quân Pháp chiến thắng, thu được vô số pháo của đối phương.
Trong trận đánh này, quân Nga mất hơn 20.000 quân và quân Pháp mất không quá 8.000. Thảm bại ở Friedland đã buộc Sa hoàng Nga Alexandre kí vào hòa ước Tilsit, một hòa ước rất nhục nhã.



7-    Tột đỉnh vinh quang và định mệnh thảm bại
Hòa ước Tilsit năm 1807, đưa Napoleon tiến tới đỉnh cao quyền lực. Napoleon đã thực hiện ý muốn của mình là vẽ lại bản đồ Trung Âu và Đông Âu. Napoleon lập ra một nước do đại công tước đứng đầu, gọi là đại công tước Warsava nằm giữa nước Phổ và nước Nga, do vị vua bù nhìn xứ Sachsen của Napoleon là đại công tước nắm quyền. Tất cả đất đai của Phổ về phía Tây sông Elbe đều cắt nhập vào vương quốc Westphalia mới thành lập, do người em trai của Napoleon là Jerome Bonapac làm quốc vương, chỉ để lại cho Friedrich III bốn tỉnh, nước Nga chỉ được chia ra một vùng đất nhỏ của Ba Lan, coi như sự trả ơn.

Trận Wagram (1809)
Ngày 5/7/1809, Napoleon cho binh lính vượt sông Danube, chiến dịch mới bắt đầu. Cuộc vượt sông diễn ra theo trật tự hoàn hảo. 
Trong trận đánh này quân Pháp có 550 cỗ pháo và quân Áo có 500 khẩu. Trận đánh kéo dài đến tận đêm, đó là giai đoạn ác liệt nhất. Napoleon ở giữa trận  cùng tham gia với các thống chế như Davout, Massena…Thật hiếm thấy trận đánh nào, kể từ trận Austerlitz, mà các thống chế của Napoleon lại hành động chính xác 
Trong hai ngày 5/7 và 6/7, quân Áo tổn thất lên đến 36.000 ngưới. Quân Pháp mất chừng 30.000 quân. Mặc dù phải trả giá đắt nhưng Napoleon vẫn rất hài lòng. Một thời gian sau, quân Áo và Pháp kí hiệp định đình chiến. Nưóc Áo bại trận phải bồi thường chiến phí rất lớn và mất gần hết đất đai. Chiến dịch năm 1809 kết thúc.



Trận Borodino (1812)
Chiếm được nước Nga cũng có nghĩa là là Napoléon sẽ làm chủ được toàn bộ châu Âu. Vì vậy trong cuộc viễn chinh này Napoléon đã chuẩn bị một đội quân lớn nhất thời bấy giờ gồm 60.8 vạn quân, 1372 khẩu pháo…
Ngày 28-6-1812, chiếm Vinnô và đầu Tháng 8 chiếm Smôlenxcơ. 
Ngày 29 Tháng 8 năm 1812, Tướng Mikhail Illarionovich Kutuzốv nhận chức Tổng tư lệnh quân đội Nga. Kutuzốv thực hiện chính sách vườn không nhà trống, vừa rút lui vừa tổ chức ngăn chặn tiêu hao lực lượng quân Pháp; 
Việc vận chuyển hậu cần của quân Pháp gặp khó khăn do phải di chuyển liên tục. Lúc đó, lực lượng trực tiếp tiến công của Napoléon chỉ có 13 vạn quân với 587 khẩu pháo, còn Kutuzốv đã tập trung được một lực lượng gồm 11.5 vạn quân và 640 khẩu pháo. Xét tương quan lực lượng giữa 2 bên gần như tương đương. Chính trong điều kiện đó, Kutuzốv đã quyết định tiến hành trận quyết chiến chiến lược. 
Sau khi chiếm được một số khu vực phòng ngự, quân Pháp tập trung lực lượng mở đợt tiến công và chiếm được khu vực phía Tây thôn Semenovski. 
Đến 14 giờ, Napoléon tiếp tục cho lực lượng tiến công trận địa pháo quân Nga và đưa đội dự bị cuối cùng vào chiến đấu. Mặc dù bị thiệt hại nặng nề, nhưng đến 15 giờ 30 phút, quân Pháp đã chiếm được trận địa. 
Quân Nga mặc dù bị mất một số khu vực nhưng vẫn giữ được vững đội hình chiến đấu. Trong trận đánh kịch liệt tại Borodino, quân đội Nga đã tiêu diệt được rất nhiều kẻ xâm lược, sau đó họ dần dần rút lui khỏi trận địa để bảo toàn lực lượng.
Cuộc đại chiến tại Borodino trở thành một đòn giáng thật nặng nề vào Napoleon cũng như chế độ độc tài của ông. Napoleon đã thất bại trong mục tiêu chính của ông là muốn tiêu diệt toàn bộ lực lượng quân đội Nga chỉ trong một trận đánh duy nhất. Sau đó ông sẽ tiến tới chiếm thành phố Moskva, 
Nếu như Napoléon cho việc kết thúc chiến tranh chỉ bằng một cuộc quyết chiến chiến lược thì ngược lại, Kutuzốv cho rằng phải tiến hành nhiều cuộc quyết chiến chiến lược; trận trước tạo điều kiện cho trận sau và tất cả dành cho trận thắng cuối cùng. 

Sau thảm bại vì Mùa Đông nước Nga năm 1812, trước sức ép dư luận Napoleon bị truất ngôi, tước binh quyền và bị lưu đày tại đảo Elba.
Vào một buổi tối tháng 3 năm 1815, Napoleon từ đảo Elba bí mật trở về Lyon. Triều đình Bourbon phái nhiều quân đoàn đến đánh nhưng hết quân đoàn này đến quân đoàn khác cùng hô to "Hoàng đế vạn tuế" rồi chạy theo Napoleon. Napoleon không tốn một viên đạn để trở lại ngôi vị hoàng đế nước Pháp.
Tin tức Napoleon quay trở về khiến các nước châu Âu hốt hoảng, họ vội vàng liên minh với nhau và kéo quân từ bốn phương tám hướng đổ về nước Pháp. Lần này liên quân do người Phổ và người Anh đứng đầu, tập trung đại quân tại vùng Bỉ.
Trận Waterloo (1815)
Trận Waterloo diễn ra vào ngày Chủ nhật 18 tháng 6 năm 1815 tại một địa điểm gần Waterloo, thuộc Bỉ ngày nay. Quân đội Hoàng gia Pháp dưới sự chỉ huy của Napoleon Bonaparte đã bị đánh bại bởi liên quân của Liên minh thứ bảy, bao gồm quân Anh và đồng minh do Công tước Wellington chỉ huy và quân Phổ do Gebhard von Blücher chỉ huy.
Quân Pháp có nhiều pháo hơn so với quân Anh hoặc quân Phổ. Do chiến trường lầy lội, phản lực khi bắn đã khiến các khẩu pháo chôn mình trong bùn, dẫn đến tốc độ bắn chậm, và cần nhiều sức lực hơn khi phải di chuyển chúng trở lại vị trí bắn ban đầu, ngoài ra các viên đạn tròn không nẩy được do đất ẩm ướt. 
Dù có những hạn chế, nhưng việc duy trì hỏa lực pháo binh đã chứng minh tính hiệu quả khi đã tham chiến, đặc biệt là trong cuộc tấn công của kỵ binh Pháp trong trận Waterloo. Bộ binh Anh tập hợp thành đội hình hình vuông, đã bị tổn thất nặng nề do bị pháo của Pháp tấn công, trong khi đó thì pháo Anh tấn công long kỵ binh và thương kỵ binh của Pháp, khi họ phải rút lui để tập hợp lại đội hình. Cuối cùng, người Pháp chấm dứt cuộc tấn công của họ, sau khi bị tổn thất nặng thề do súng hỏa mai và pháo của Anh.
Trận đánh kết thúc chiến dịch Waterloo và cũng là trận đánh cuối cùng của Napoleon. Thất bại ở trận đánh này đã đặt dấu chấm hết cho ngôi vị Hoàng đế Pháp của Napoleon và vương triều một trăm ngày của ông.

Sài Gòn, ngày 10-02-2018
Street Talk sưu tầm
Kỳ tới: Vũ khí tầm xa trong các cuộc Thế chiến





No comments:

Post a Comment