Friday, February 9, 2018

VŨ KHÍ TẦM XA - Khơi mào các cuộc chiến

PHẦN II: VŨ KHÍ TẦM XA - Khơi mào các cuộc chiến
Trong quá trình tìm hiểu lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới, chúng ta sẽ rút ra được nhiều bài học, nào là chánh nghĩa, nào là phi nghĩa, nào là “thần thánh”, “anh hùng dân tộc”… Với tôi duy nhất chỉ tìm hiểu vì sao Ai? Và vũ khí nào? Đã quyết định khơi mào các cuộc chiến tranh. Và tôi đã cảm nhận được đó chính là: VŨ KHÍ TẦM XA
Sau phần I về ĐẠO QUÂN MÔNG CỔ thì phần II về Napoleon Bonaparte sẽ giúp các bạn hiểu thêm
Napoléon Bonaparte - Biệt danh là Nabulio
có nghĩa là “con sư tử hoang dã”
Trên đà các cuộc chinh phục từ cuộc Cách mạng tư sản năm 1789, nước Pháp đã phát triển sức mạnh của mình rất nhanh khi đội quân của Napoléon chinh phục được phần lớn châu Âu.  Các cuộc chiến tranh của Napoléon, hay thường được gọi tắt là Chiến tranh Napoléon là một loạt các cuộc chiến trong thời Hoàng đế Napoléon Bonaparte trị vì nước Pháp, diễn ra giữa các khối liên minh các nước châu Âu chống lại Đế chế thứ nhất của ông. Toàn bộ các cuộc xung đột này đã khiến cho tổng cộng khoảng 2,5 triệu người chết, trong đó 1,5 triệu là binh lính và 1 triệu thường dân.
Napoléon với tư cách là một nhà quân sự, một nhà chính trị lừng danh của nước Pháp cận đại, ông đã để lại những dấu ấn to lớn đối với lịch sử loài người. Trong hơn 20 năm cuộc đời hoạt động tại các chiến trường ở Châu Âu, vết chiến xa của ông đã in khắp cả vùng lục địa Châu Âu, từ bán đảo Isberia đến sông Vistula, từ Địa Trung Hải đến biển Balitc. Sức ảnh hưởng ấy được ví với hình ảnh: “Nếu ông hắt hơi một cái, cũng đủ làm cho cả Âu Châu bị cảm lạnh”. Rõ ràng với tầm vóc to lớn ấy, những hoạt động thực tiễn quân sự của ông đã góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển của bộ môn khoa học quân sự, vào kho tàng khoa học quân sự sau này.
Tuy nhiên, sự thất bại còn nhanh hơn, bắt đầu từ sau thảm họa của cuộc tiến công vào nước Nga năm 1812 cho đến thất bại quyết định trong trận Waterloo năm 1815, Đế chế của Napoleon cuối cùng đã bị đánh bại hoàn toàn về quân sự và kết quả là sự phục hưng của vương triều Bourbon ở Pháp.
Chiến tranh Napoléon đã giúp cách mạng hóa lực lượng quân đội các nước châu Âu, trong đó có việc sử dụng pháo binh (nâng tầm tác chiến chủng loại vũ khí tầm xa) cũng như việc xây dựng các tổ chức quân sự.



1-    Xây dựng chế độ quân dịch
Với một quy mô chưa từng thấy, các định chế chiến tranh, các tổ chức quân sự đã nhanh chóng được xây dựng và củng cố các quân đoàn thành các sư đoàn, trung đoàn - chủ yếu là nhờ vào việc áp dụng chế độ cưỡng bách tòng quân số lượng lớn (hiện tại nhiều quốc gia vẫn áp dụng – đó là chế độ quân dịch).
Năm 1797, Napoleon thành lập 23 sư đoàn theo vị trí địa lý. Hệ thống này được Napoleon duy trì và mở rộng khi chiếm được thêm lãnh thổ các nước láng giềng, tăng lên 32 sư đoàn vào năm 1811 và thêm 6 sư đoàn ở vương quốc Italy.
Mỗi vùng lãnh thổ đều lấy một thị trấn lớn làm trung tâm dưới quyền điều hành của một tướng cấp sư đoàn với sự hỗ trợ của các sĩ quan người địa phương. Nhiệm vụ của họ là phụ trách vấn đề quân sự ở địa phương, bao gồm cả việc tuyển quân.
Napoleon đã củng cố việc thi hành chế độ tòng quân cưỡng bức hiện đại được đưa ra bởi Hội đồng Đốc chính. Khi nhà Bourbon phục hưng một trong các chiếu chỉ đầu tiên là chấm dứt nó.
2-    Nâng vai trò của pháo binh – vũ khí tầm xa và uy lực
Quân đoàn được thay thế bởi sư đoàn làm đơn vị quân đội lớn nhất, và pháo tự hành được tích hợp vào các khẩu đội dự bị, hệ thống nhân sự trở nên linh hoạt hơn và kỵ binh trở lại làm một đội hình quan trọng trong lý thuyết quân sự Pháp. Các phương pháp này ngày nay được xem là các đặc điểm chủ yếu của học thuyết quân sự Napoléon.
Là một trong số các tướng lĩnh đầu tiên nhận thấy pháo binh đã không được sử dụng hết tiềm năng của nó, Napoleon thường tập trung các khẩu pháo của mình thành các khẩu đội, đưa những thay đổi vào pháo binh Pháp, điều đó đã cải thiện đáng kể năng lực tác chiến của pháo binh Pháp, giúp lực lượng này trở thành lực lượng pháo binh thiện chiến nhất ở châu Âu thời bấy giờ. 
Các đối thủ của Napoléon đã học tập từ các cách tân của ông. Tầm quan trọng được tăng cường của hỏa lực pháo sau 1807 bắt nguồn từ việc ông tạo nên một lực lượng pháo có tính cơ động cao, tăng cường số lượng pháo và thay đổi trong cách vận dụng chúng. Kết quả của những yếu tố này là Napoléon, thay vì dựa vào việc nướng lính bộ binh làm xói mòn sức phòng thủ của kẻ  địch và bị hao hụt lớn về quân số, giờ có thể sử dụng hỏa lực tập trung như một mũi nhọn để khoét một lỗ thủng trong phòng tuyến của kẻ địch và sau đó khai thác lỗ thủng đó bằng bộ binh và kỵ binh hỗ trợ. McConachy bác bỏ lập luận cho rằng sự phụ thuộc vào pháo binh của quân đội Pháp tăng lên bắt đầu từ 1807 là một sản phẩm tự nhiên bởi chất lượng suy giảm của bộ binh và sau này là sự yếu thế về số lượng kỵ binh của Pháp.
Vũ khí và các loại kĩ thuật quân sự khác nhìn chung không đổi trong kỷ nguyên Cách mạng và thời Napoléon, nhưng sự vận động tác chiến của thế kỉ 18 đã chứng kiến những thay đổi đáng kể. Ảnh hưởng lớn nhất của Napoléon là trong cách ông chỉ đạo chiến tranh. Antoine-Henri Jomini đã giải thích các phương pháp của Napoléon trong một cuốn sách giáo khoa được sử dụng rộng rãi đã ảnh hướng tới tất cả các quân đội châu Âu và Mỹ. Napoléon được nhà lý thuyết quân sự đầy ảnh hưởng Carl von Clausewitz xem như một thiên tài trong nghệ thuật tiến hành chiến tranh, và các nhà sử học xếp ông vào một trong những chỉ huy quân sự vĩ đại nhất. Tướng Wellington, khi được hỏi ai là vị tướng vĩ đại nhất thời đó, đã trả lời: "Trong thời đại này, trong những thời đại đã qua, cũng như trong bất kỳ thời đại nào, đó là Napoléon".


3-    Dùng hỏa lực làm tăng quyền lực
Súng thần công đóng vai trò quan trọng trong việc tăng quyền lực cho Napoleon Bonaparte, và tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong quân đội của ông những năm sau đó. 
Ngày 14 tháng 7 năm 1789, Cách mạng tư sản Pháp bùng nổ lật đổ chế độ quân chủ, Napoleon đã tham gia tích cực vào Câu lạc bộ Jacobin, lúc này ông mang quân hàm trung úy. 
Trong những năm của cuộc Cách mạng Pháp, Hội đồng Đốc chính không được sự ủng hộ của dân chúng đã dẫn đến các cuộc bạo loạn và nổi dậy. Khi hơn 25.000 người bảo hoảng—do tướng Danican dẫn đầu tấn công và tiến hành bạo loạn tại Paris,
Tình hình trở nên hết sức nghiêm trọng, Paul François Jean Nicolas, vicomte de Barras được chọn làm người đứng đầu lực lượng phòng thủ của Paris, bị áp đảo về quân số với tỉ lệ 5-1 và vô tổ chức, những người Cộng hòa đã tuyệt vọng. 
Chính phủ quyết định bổ nhiệm Napoleon làm phụ tá cho Tử tước Barras, tư lệnh quân cảnh vệ Paris. Khi Napoleon đến, ông tổ chức lại lực lượng phòng thủ, ông nhận ra rằng nếu không có pháo thì thành phố sẽ không thể giữ được. Ông ra lệnh cho Joachim Murat (sau trở thành một trong những thống chế của ông) mang các khẩu pháo từ công viên pháo binh Sablons tới; Major và kỵ binh của ông đã chiến đấu để giành lại các khẩu pháo và mang chúng về cho Napoleon.
Khi những người lính được huấn luyện yếu kém của Danican tấn công ở số 13 Vendémiaire vào ngày 5 tháng 10 năm 1795, theo lịch Pháp vào thời điểm đó—Napoleon ra lệnh cho pháo binh của mình bắn các đạn chùm vào đám đông, một hành động sau này được gọi là "luồng đạn chùm". Với pháo binh trong tay, Napoleon đã nhanh chóng dập tắt cuộc bạo loạn. Và kể từ đó con đường công danh của ông đã rộng mở.
Cuộc tàn sát đã có ảnh hưởng lớn và kết thúc mối đe dọa đối với chính phủ mới, cùng thời điểm đó Bonaparte mới 26 tuổi, đã trở thành một nhânh vật nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng trong chánh quyền Cách mạng. 

4-    Linh hoạt sử dụng các loại đạn pháo để áp chế đối phương
Trong cuộc dẹp bạo loạn 1795 tại Paris, Napoleon trở thành người khởi xướng dùng uy lực của pháo để trấn áp và tàn sát vào các nhóm biểu tình bạo loạn đông người, ông ra lệnh cho pháo binh của mình bắn các đạn chùm vào đám đông, một hành động sau này được gọi là "luồng đạn chùm".
Trước đó năm 1793, trong trận vây hãm thành Toulon, lúc bấy giờ thành phố đang nằm trong tay quân Anh, Napoleon trực tiếp chỉ huy pháo binh nên ông có thể cho mọi người biết ông là một người có hiểu biết rộng về tác chiến quân sự .

Trận Toulon (1793)
Napoleon lúc đó đang là đại úy khi thăm các ụ pháo do viên tướng Carteaux vốn bất tài này bố trí xây dựng đã thấy ngay tầm bắn của đạn pháo không thể với tới các chiến thuyền Anh. Quân Anh chủ động tấn công vào các ụ pháo của quân Pháp nhưng tổn thất nặng nề, Napoléon truy quét và bắt được tướng O’Hara.
Trước đó Napoleon đã gửi về Bộ trưởng chiến tranh ở Paris đề xuất một mô hình lò có khả năng nung đỏ đạn đại bác đến mức có thể làm cháy thuyền địch. Mặc dù bị tướng Carteaux gây cản trở nhưng Bonaparte vẫn được tín nhiệm thăng cấp thiếu tá chỉ huy pháo binh.
Từ khi Napoleon nắm quyền chỉ huy, pháo binh Pháp bắt đầu tấn công và chiếm giữ hai pháo đài Éguillette và Balaguir, vốn ở vị trí then chốt có thể huỷ diệt mọi tàu bè tiến vào cảng. 
Ngay lập tức các hạm đội Anh trong cảng bị pháo binh tấn công bằng loại đạn đã được nung đỏ, gây hỏa hoạn khắp vùng cảng Toulon. Ngày hôm sau cũng với chiến thuật như vậy Napoléon chiếm tiếp pháo đài Malbosquet, các chiến thuyền Anh phải bỏ chạy trước khi bị đốt cháy.
Cuối năm 1795, Napoleon đuổi được quân Anh ra khỏi thành phố. Sau cuộc vây hãm đó, tiếng tăm của ông lan rộng khắp nước Pháp. ông được thăng lên cấp tướng chỉ huy lữ đoàn. Khi đó ông mới 24 tuổi.
Những chiến thuật sử dụng các loại đạn pháo khác nhau để áp chế kẻ thù đã được Napoleon sử dụng thành công, ví dụ trong trận Friedland, khi những khẩu pháo Pháp bắn khoảng 3.000 viên đạn tròn và 500 viên đạn chùm đã gây thương vong nghiêm trọng cho quân Nga, tổn thất của quân Nga là trên 20.000 người bị chết và bị thương.
5-    Vận động vũ khí tầm xa – pháo binh với kỵ binh cơ động nhanh
Ở phương Tây, loại pháo dã chiến trở nên nổi tiếng có lẽ bởi Napoleon đã sử dụng nó với bánh xe rất lớn giúp chúng di chuyển nhanh đến địa điểm cần thiết trên chiến trường và nã pháo vào đội hình của đối phương ở địa điểm thuận lợi gây mất tâm lý chiến đấu của đối phương và tăng hiệu quả tấn công cho kỵ binh, bộ binh. Vì pháo binh di chuyển nhanh đã phát huy tối đa hiệu quả và giúp ông giành chiến thắng trong nhiều cuộc chiến, Napoleon đã nói: "Bộ binh tham gia trận chiến, pháo binh quyết định nó và kỵ binh thu hoạch nó".
1796 Napoleon được bổ nhiệm làm tư lệnh đạo quân thứ 4 tiến đánh nước Ý để kiềm chế quân Áo. Trong các chiến dịch quân sự đầu tiên, Napoleon tỏ rõ là một tư lệnh sắc sảo với khả năng trí tuệ và sự linh hoạt chiến thuật cao độ. Di chuyển nhanh chóng và mưu mẹo, ông đã vượt qua các đối thủ về mặt chiến lược, tránh được những trận chiến mà ông không muốn có. Về mặt chiến thuật, ông giành được thế áp đảo trên chiến trường.
 Trong suốt chiến dịch ở Italy, ông đã đánh tan từng đội quân của Áo, sử dụng đòn vu hồi để đánh vào các vị trí phòng thủ của đối phương.
Chiến dịch ITALY (1796-1797)
11/3/1796 khi ông nhận lệnh từ Hội đồng Đốc chính, tức 3 ngày sau khi ông kết hôn với Josephine. Các tướng lĩnh lại không ưa Napoleon vì họ thấy phải phục tùng một thắng nhóc 27 tuổi là sự sỉ nhục.
Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng Napoleon vẫn rất bình tĩnh. Ông đến từng đơn vị động viên binh lính và cố gắng phát lương cho họ. Ông thay những khẩu pháo cũ kĩ bằng những khẩu pháo mới và mạnh hơn. Ông dùng nhiều cách để kích động, lấy tinh thần binh sĩ và xử bắn những kẻ nổi loạn. Vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn, quân đội của ông đã đâu vào đấy.
Hai tháng sau, ngày 10/5/1796 quân Pháp và Áo đánh nhau đẫm máu ở cầu Lodi bắc qua sông Ada. Trước khi trận đánh nổ ra, Napoleon đã đích thân đi trinh sát trận địa và đã tự tay bố trí trận địa pháo binh. Ông canh đo thật kĩ và chính xác vì ông biết chỉ có hoả lực pháo binh mới hạ được quân Áo. Đúng như ông dự kiến, hoả lực mạnh mẽ của pháo binh Pháp đã làm tê liệt quân Áo. Lúc cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ở đầu cầu thì Napoleon xông lên dẫn đầu một tiểu đoàn kỵ binh cận vệ, xông tới dưới làn mưa đạn, 20 khẩu pháo của quân Áo nhả đạn nhằm quét sạch mọi thứ trên cầu và lân cận. Lính kỵ binh cận vệ, do Napoleon dẫn đầu, đã chiếm được cầu và đánh bật được quân Áo ra xa. Sau một ngày đánh nhau đẫm máu, quân Áo vỡ trận bỏ chạy bỏ lại trên chiến trường 15 khẩu pháo và chừng 2.000 người vừa bị chết và bị thương.
Napoleon tung quân truy kích và chiếm Milan ngày 15/5/1796. Vùng Lombardie rơi vào tay quân Pháp.
Quân Pháp thừa thắng tiến lên tấn công tàn quân Áo đã chạy về thành Mantova. Sau khi bao vây suốt năm tháng trời, triều đình Áo cử ngay 40.000 quân đến giải vây. Ngaỳ 15/11/1796 tại cầu Arcole lại diễn ra trận đánh đẫm máu kéo dài đến ngày 17/11/1796. Quân Áo đại bại, phải đầu hàng vô điều kiện.
Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã đánh tan tác các đội quân Áo tại Ý và tiến vào lãnh thổ nước Áo tới sát kinh đô Viên làm nước Áo phải ký Hiệp định đình chiến. Đoàn quân chiến thắng của Napoleon trở về Paris trong vinh quang rực rỡ.
Năm 1798 Napoleon được cử làm Tư lệnh quân Đông chinh, và ông đã nhanh chóng đánh chiếm Ai Cập. Napoleon đã mang theo hơn 38.000 quân, trong đó có nhiều chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực, bao gồm cả các nhà toán học như Monge, Joseph Fourier, Laplace, Berthollet.



Viễn chinh xâm lăng Ai Cập (1798-1799)
Vào tháng 5 năm 1798, Napoléon bắt đầu cuộc viễn chinh tại Ai Cập với 38,000 quân. Các chiến thắng bắt đầu: pháo đài Malta của các hiệp sĩ Hospitallers (the Knights Hospitallers of St. John of Jerusalem) bị thất thủ vào ngày 10-6-1798, rồi thành phố Alexandria của Ai Cập đầu hàng vào ngày 1 tháng 7. Napoléon đã đánh bại các kẻ cai trị xứ Ai Cập có tên là nhóm Mamelukes, trong trận đánh tại các Kim Tự Tháp gần thành phố Cairo. Quân Mamelukes đã chạy trốn về phía nam, bỏ lại một phần pháo binh (40 khẩu pháo). Mấy nghìn xác chết phủ kín chiến trường. Rồi đồng bằng sông Nile bị chinh phục rất nhanh chóng. Quân Pháp đại thắng quân Mameluk Ai Cập.
Napoléon đã đưa quân qua Syria vào tháng 2 năm 1799, tiến tới pháo đài Acre (ngày nay là Akko, thuộc nước Do Thái) do người Thổ trấn giữ, họ được sự trợ chiến của Hạm đội Anh do Đô đốc Sydney Smith chỉ huy và đoàn quân Pháp đã bị chặn đánh thảm bại tại nơi này. Sau nhiều đợt xung phong vô hiệu, ngày 20 tháng 5 năm 1799, quân Pháp phải bỏ cuộc bao vây, tổng cộng quân Pháp đã mất 3.000 người. Bên bị bao vây còn thiệt hại lớn hơn thế nữa.
Napoléon đành phải rút về Ai Cập và khi tới Abu Qir, gần Vịnh Abu Qir, ông đã đột kích và tiêu diệt gần 15.000 quân Thổ vào ngày 25 tháng 7 năm 1799.

Trận Marengo (1800)
Đây là trận đánh quan trọng đầu tiên của Napoleon trong cương vị Tổng tài của nước Pháp. Trận đánh khởi đầu vào buổi sớm ngày 14 tháng 6 năm 1800 ở gần Marengo. Napoleon có cả thảy 20.000 quân và chỉ điều động bộ phận pháo loại tồi nhất cùng vượt đèo Grand Xanh Béc-na với ông hồi tháng 5, còn pháo binh chủ lực thì hành quân đến chậm vì bị mắc vây và đánh chiếm một cứ điểm mạnh trong núi che chở cho quân Áo. 
Quân Pháp vừa đánh vừa lùi và giáng cho quân địch những đòn đích đáng, nhưng bản thân cũng bị thiệt hại nặng. Đến hai giờ chiều, trận đánh xem chừng thất bại, không thể cứu vãn được. Gần 3 giờ chiều,  tướng Áo Melas đã ca khúc khải hoàn, cử người về Viên báo tin quân Áo toàn thắng, thu nhiều chiến lợi phẩm và tù binh, tướng vô địch Napoleon đã thất bại. Tình trạng hỗn độn đã bao trùm lên tổng hành dinh quân đội Pháp. Napoleon giữ thái độ bình tĩnh, vừa nhắc nhở cần phải cầm cự, vì trận đánh chưa kết thúc. Và đến 3 giờ chiều, tình thế đột nhiên thay đổi một cách bất ngờ, bởi sư đoàn De Saix được phái xuống phía nam để cắt đường rút lui của quân địch đang từ Giên trở về, hành quân cấp tốc quay trở lại, đã công kích ồ ạt vào quân Áo đúng giờ phút quyết định chiến trường.
Nước Áo bị bắt buộc phải ký Hòa Ước Luneville vào tháng 2 năm 1801, công nhận nước Pháp có quyền chiếm đóng các miền sông Rhine, dãy núi Alps và dãy núi Pyrenées.

Trận Ulm (1805)
Đây là chiến dịch đầu tiên của Napoleon trong vai trò Hoàng đế Pháp. Sau khi biết tin chính xác quân Nga tiến sang nước Áo, Napoléon bỏ ý định tiến sang nước Anh và hướng các lực lượng chính của mình ra chống lại cuộc liên minh quân sự lần thứ 3 (Nga – Áo). Kế hoạch của Napoléon là tiến hành phòng thủ ở Italia và tập trung lực lượng chủ yếu dưới sự chỉ huy trực tiếp của mình trên mặt trận Nadube. 
Nhờ có kế hoạch hành quân cấp tốc, tất cả đã đến nơi tập trung xung quanh thành Ulm và dồn tướng Áo là Mack cùng phần lớn quân Áo như bị nhốt trong một cái túi.
Tình thế của Mack trở nên tuyệt vọng. Napoléon cho người đến thương lượng đòi Mark phải đầu hàng và dọa nếu buộc phải đánh vào thì sẽ tiêu diệt hết. Ngày 20/10/1808, Mack đầu hàng, Napoléon thả cho Mark về, còn tù binh thì đưa sang Pháp.
Napoléon tiến thẳng đến Viên theo hữu ngạn sông Danube. Trong lúc truy kích, quân Pháp còn bắt thêm được rất nhiều tù binh. Số tổn thất của quân Áo lúc này đã lên tới 61.000 người (32.000 người ở Ulm, 29.000 người bị bắt trước khi thành Ulm thất thủ) chưa kể số bị thương, bị chết, mất tích và một số bị bắt trong quá trình truy kích.
6-    Bão lửa pháo binh – Kỵ binh chia cắt – bộ binh dọn chiến trường
Hạ thành Viên xong, Napoléon cấp tốc qua cầu, vượt sông Danube và xông thẳng vào quân Nga lúc này đang ở bên tả ngạn sông Danube, cũng vừa qua cầu. Ý định của Napoléon là chặn đường rút lui của quân Nga đang hối hả rút về phía Bắc. 
Cuộc rút lui của quân Nga là do danh tướng Nga Mikhail Illarionovich Kutuzov đề xuất nhằm đạt mục đích là cứu thoát đại bộ phận quân Nga khỏi nguy cơ bị tiêu diệt, nhưng may mắn đã đến với Napoléon khi Hoàng đế Nga Aleksanđr I đã bác bỏ việc rút lui của Kutuzov mà liều quyết định tấn công. Không những thế, Aleksanđr I còn làm một điều dại dột nữa là ủy nhiệm quyền chỉ huy quân đội cho tướng Áo Frankz Von Weyrother người đã từng bị Napoléon đánh cho thua tơi bời ở nhiều nơi, 

Trận Chiến Austerlitz-1805
Trận Tam Vương là chiến thắng lớn nhất về mặt quân sự của Napoléon. Hoàng đế Napoléon với đạo quân 73.000 người đã đánh bẹp hai đạo quân Áo và Nga dưới quyền của Hoàng đế Áo Franz II và Nga hoàng Alexander I của Nga (tổng cộng 85.000 người) vào ngày 2 tháng 12 năm 1805 gần thành phố Austerlitz, ngày nay là thành phố Slavkov u Brna của Cộng hoà Séc.
Napoléon hạ quyết tâm là bằng tác chiến hợp đồng binh chủng giữa bộ binh, kỵ binh và pháo binh, tấn công chớp nhoáng tiêu diệt quân liên minh, 
Thế là Napoléon đã bày xong thế trận vận động tấn công tiêu diệt quân liên minh với ba thế rất lợi hại: thế kìm (cánh quân của Lannes, Murat và Bécnađốt), thế công (cánh quân của của Sout và Ney), thế chặn ( cánh quân của Đavout). Că ba thế này sẽ cùng nhau phát huy tác dụng dưới sự điều khiển của Napoléon 
Bằng hỏa lực tập trung và mãnh liệt của pháo binh đặt ở trên các cao điểm, Napoléon ngay từ phút đầu đã gây nên nhiều thiệt hại lớn cho bên liên quân. Đội hình tiến công của quân Nga – Áo bỗng trở nên rối loạn. Tiếp sau cuộc nã pháo dữ dội, bất ngờ và kéo dài không lâu này, dưới sự yểm trợ của pháo binh, bộ binh và kỵ binh từ trên ba hướng chia làm nhiều mũi bắt đầu xung phong ra chia cắt đối phương từ hướng Bắc đánh ra, từ trên cao điểm (hướng tập trung ở cánh giữa) đánh xuống, từ hướng Nam đánh lên.
Napoléon đã ra lệnh nã đại bác lên mặt nước sông đã đóng băng, hàng trung đoàn quân Áo bị chết đuối hoặc làm mồi cho đạn đại bác của quân Pháp tiêu diệt. Còn một số khác thì đầu hàng. chừng 15.000 quân Nga – Áo bị giết, 20.000 bị bắt cầm tù, hầu hết pháo của liên quân bị tước và nhất là đội quân Nga – Áo đã bị tiêu diệt thực sự, số tàn quân bỏ chạy tán loạn đi tứ phía, bỏ lại rất nhiều kho tàng quân trang, quân dụng và lương thực. Đó là những nét lớn về kết quả của cuộc chiến thắng đó. Quân Pháp bị thiệt mất ngót 9.000 người .

Cách đánh của trận Austerlitz đã được mô tả đầy đủ chi tiết trong lịch sử quân sự Pháp và nó đã được nhiều danh tướng, sử gia nghiên cứu phân tích kỹ lưỡng. Một trong những người đã áp dụng cách đánh đó thành công là tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam khi ông đã vận dụng tốt pháo binh dội lửa, đào hào chia cách cứ điểm Điện Biên Phủ và dùng bộ binh áp sát giải quyết chiến trường, dành chiến thắng trước người Pháp năm 1954.

Trận Jena-Auerstad (1806)
Để đánh gục nước Phổ, Napoleon ra lệnh cho quân Pháp từ hai cánh mở gọng kềm bao vây quân Phổ, pháo binh phối hợp chặt chẽ với bộ binh, nhanh chóng chiếm ưu thế trên chiến trường. Ông đã tuyên bố:  Chúng ta sẽ làm cho toàn thế giới thấy rằng, đội hình tác chiến mới tất sẽ thắng đội hình tác chiến cũ. Tôi tràn đầy lòng tin vào việc đó” [10; tr.130]
Ngày 27/10/1806, 19 ngày sau khi chiến tranh Pháp – Phổ bùng nổ và 13 ngày sau trận Jena và Auerstad, Napoleon ca khúc khải hoàn tiến vào Berlin giữa tiếng nhạc chào mừng.
Friedrich Engels – một lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng ca ngợi tài năng quân sự của Napoleon trong trận chiến này: “Do cách đánh mới đã được Napoleon nâng lên đến mức hoàn thiện nhất, hơn hẳn lối đánh cũ kỹ, dẫn đến trận chiến ở Jena kết thúc, làm cho lối tác chiến cũ bị phá sản hoàn toàn, không cứu vãn được”.

Trận Eylau (1807)
Ngày 8/2/1807, ở gần Eylau, quân Pháp và Nga đã đánh nhau một trận dữ dội. Khi trận đánh nổ ra, quân Nga điều ra trận một lực lượng pháo binh đông gấp đôi 
Napoleon nở một nụ cười khó hiểu trên khuôn mặt sạm đen vì khói thuốc súng. Khi quân Nga đã đến gần, ông ra lệnh cho đội kỵ binh cận vệ hoàng gia Pháp lao vào cuộc chiến này. Đó là lực lượng ưu tú nhất trong quân đội Pháp. Hai bên Pháp-Nga lao vào nhau và chém giết dữ dội. Rốt cuộc, quân Pháp vẫn giữ vững trận địa và trung tâm trận đánh chia thành nhiều điểm trên chiến trường rộng mênh mông.

Trận Friedland (1807)
Napoleon nhanh chóng nhận ra sai lầm tai hại của đối phương. Vì quá vội nên quân Nga đã ùn tắc thành một khối lớn ở khuỷu sông Alle. Không do dự, Napoleon liền tiến công thẳng vào quân chủ lực đối phương. Quân Nga đã chống lại rất ngoan cường và đã tiêu diệt hoàn toàn một phần quân đoàn của Ney. Nhưng sai lầm của Bennigsen đã dẫn đến thất bại hoàn toàn. Quân Nga phải nhảy xuống sông để tránh bị tiêu diệt và hàng ngàn lính Nga đã chết đuối. Chỉ có một số nhỏ chạy trốn được. Quân Pháp chiến thắng, thu được vô số pháo của đối phương.
Trong trận đánh này, quân Nga mất hơn 20.000 quân và quân Pháp mất không quá 8.000. Thảm bại ở Friedland đã buộc Sa hoàng Nga Alexandre kí vào hòa ước Tilsit, một hòa ước rất nhục nhã.



7-    Tột đỉnh vinh quang và định mệnh thảm bại
Hòa ước Tilsit năm 1807, đưa Napoleon tiến tới đỉnh cao quyền lực. Napoleon đã thực hiện ý muốn của mình là vẽ lại bản đồ Trung Âu và Đông Âu. Napoleon lập ra một nước do đại công tước đứng đầu, gọi là đại công tước Warsava nằm giữa nước Phổ và nước Nga, do vị vua bù nhìn xứ Sachsen của Napoleon là đại công tước nắm quyền. Tất cả đất đai của Phổ về phía Tây sông Elbe đều cắt nhập vào vương quốc Westphalia mới thành lập, do người em trai của Napoleon là Jerome Bonapac làm quốc vương, chỉ để lại cho Friedrich III bốn tỉnh, nước Nga chỉ được chia ra một vùng đất nhỏ của Ba Lan, coi như sự trả ơn.

Trận Wagram (1809)
Ngày 5/7/1809, Napoleon cho binh lính vượt sông Danube, chiến dịch mới bắt đầu. Cuộc vượt sông diễn ra theo trật tự hoàn hảo. 
Trong trận đánh này quân Pháp có 550 cỗ pháo và quân Áo có 500 khẩu. Trận đánh kéo dài đến tận đêm, đó là giai đoạn ác liệt nhất. Napoleon ở giữa trận  cùng tham gia với các thống chế như Davout, Massena…Thật hiếm thấy trận đánh nào, kể từ trận Austerlitz, mà các thống chế của Napoleon lại hành động chính xác 
Trong hai ngày 5/7 và 6/7, quân Áo tổn thất lên đến 36.000 ngưới. Quân Pháp mất chừng 30.000 quân. Mặc dù phải trả giá đắt nhưng Napoleon vẫn rất hài lòng. Một thời gian sau, quân Áo và Pháp kí hiệp định đình chiến. Nưóc Áo bại trận phải bồi thường chiến phí rất lớn và mất gần hết đất đai. Chiến dịch năm 1809 kết thúc.



Trận Borodino (1812)
Chiếm được nước Nga cũng có nghĩa là là Napoléon sẽ làm chủ được toàn bộ châu Âu. Vì vậy trong cuộc viễn chinh này Napoléon đã chuẩn bị một đội quân lớn nhất thời bấy giờ gồm 60.8 vạn quân, 1372 khẩu pháo…
Ngày 28-6-1812, chiếm Vinnô và đầu Tháng 8 chiếm Smôlenxcơ. 
Ngày 29 Tháng 8 năm 1812, Tướng Mikhail Illarionovich Kutuzốv nhận chức Tổng tư lệnh quân đội Nga. Kutuzốv thực hiện chính sách vườn không nhà trống, vừa rút lui vừa tổ chức ngăn chặn tiêu hao lực lượng quân Pháp; 
Việc vận chuyển hậu cần của quân Pháp gặp khó khăn do phải di chuyển liên tục. Lúc đó, lực lượng trực tiếp tiến công của Napoléon chỉ có 13 vạn quân với 587 khẩu pháo, còn Kutuzốv đã tập trung được một lực lượng gồm 11.5 vạn quân và 640 khẩu pháo. Xét tương quan lực lượng giữa 2 bên gần như tương đương. Chính trong điều kiện đó, Kutuzốv đã quyết định tiến hành trận quyết chiến chiến lược. 
Sau khi chiếm được một số khu vực phòng ngự, quân Pháp tập trung lực lượng mở đợt tiến công và chiếm được khu vực phía Tây thôn Semenovski. 
Đến 14 giờ, Napoléon tiếp tục cho lực lượng tiến công trận địa pháo quân Nga và đưa đội dự bị cuối cùng vào chiến đấu. Mặc dù bị thiệt hại nặng nề, nhưng đến 15 giờ 30 phút, quân Pháp đã chiếm được trận địa. 
Quân Nga mặc dù bị mất một số khu vực nhưng vẫn giữ được vững đội hình chiến đấu. Trong trận đánh kịch liệt tại Borodino, quân đội Nga đã tiêu diệt được rất nhiều kẻ xâm lược, sau đó họ dần dần rút lui khỏi trận địa để bảo toàn lực lượng.
Cuộc đại chiến tại Borodino trở thành một đòn giáng thật nặng nề vào Napoleon cũng như chế độ độc tài của ông. Napoleon đã thất bại trong mục tiêu chính của ông là muốn tiêu diệt toàn bộ lực lượng quân đội Nga chỉ trong một trận đánh duy nhất. Sau đó ông sẽ tiến tới chiếm thành phố Moskva, 
Nếu như Napoléon cho việc kết thúc chiến tranh chỉ bằng một cuộc quyết chiến chiến lược thì ngược lại, Kutuzốv cho rằng phải tiến hành nhiều cuộc quyết chiến chiến lược; trận trước tạo điều kiện cho trận sau và tất cả dành cho trận thắng cuối cùng. 

Sau thảm bại vì Mùa Đông nước Nga năm 1812, trước sức ép dư luận Napoleon bị truất ngôi, tước binh quyền và bị lưu đày tại đảo Elba.
Vào một buổi tối tháng 3 năm 1815, Napoleon từ đảo Elba bí mật trở về Lyon. Triều đình Bourbon phái nhiều quân đoàn đến đánh nhưng hết quân đoàn này đến quân đoàn khác cùng hô to "Hoàng đế vạn tuế" rồi chạy theo Napoleon. Napoleon không tốn một viên đạn để trở lại ngôi vị hoàng đế nước Pháp.
Tin tức Napoleon quay trở về khiến các nước châu Âu hốt hoảng, họ vội vàng liên minh với nhau và kéo quân từ bốn phương tám hướng đổ về nước Pháp. Lần này liên quân do người Phổ và người Anh đứng đầu, tập trung đại quân tại vùng Bỉ.
Trận Waterloo (1815)
Trận Waterloo diễn ra vào ngày Chủ nhật 18 tháng 6 năm 1815 tại một địa điểm gần Waterloo, thuộc Bỉ ngày nay. Quân đội Hoàng gia Pháp dưới sự chỉ huy của Napoleon Bonaparte đã bị đánh bại bởi liên quân của Liên minh thứ bảy, bao gồm quân Anh và đồng minh do Công tước Wellington chỉ huy và quân Phổ do Gebhard von Blücher chỉ huy.
Quân Pháp có nhiều pháo hơn so với quân Anh hoặc quân Phổ. Do chiến trường lầy lội, phản lực khi bắn đã khiến các khẩu pháo chôn mình trong bùn, dẫn đến tốc độ bắn chậm, và cần nhiều sức lực hơn khi phải di chuyển chúng trở lại vị trí bắn ban đầu, ngoài ra các viên đạn tròn không nẩy được do đất ẩm ướt. 
Dù có những hạn chế, nhưng việc duy trì hỏa lực pháo binh đã chứng minh tính hiệu quả khi đã tham chiến, đặc biệt là trong cuộc tấn công của kỵ binh Pháp trong trận Waterloo. Bộ binh Anh tập hợp thành đội hình hình vuông, đã bị tổn thất nặng nề do bị pháo của Pháp tấn công, trong khi đó thì pháo Anh tấn công long kỵ binh và thương kỵ binh của Pháp, khi họ phải rút lui để tập hợp lại đội hình. Cuối cùng, người Pháp chấm dứt cuộc tấn công của họ, sau khi bị tổn thất nặng thề do súng hỏa mai và pháo của Anh.
Trận đánh kết thúc chiến dịch Waterloo và cũng là trận đánh cuối cùng của Napoleon. Thất bại ở trận đánh này đã đặt dấu chấm hết cho ngôi vị Hoàng đế Pháp của Napoleon và vương triều một trăm ngày của ông.

Sài Gòn, ngày 10-02-2018
Street Talk sưu tầm
Kỳ tới: Vũ khí tầm xa trong các cuộc Thế chiến





Monday, October 30, 2017

VŨ KHÍ TẦM XA – Yếu tố luôn khơi mào các cuộc chiến

Từ xưa tới nay, trên thế giới luôn phải trải qua các cuộc chiến tranh lớn nhỏ khác nhau.
Vậy thì ai, dân tộc nào, quốc gia nào dám khơi mào cuộc chiến? Và họ có ưu thế gì mà dám gây chiến?
Theo chiến tranh cổ điển (cơ bắp) thường áp dụng theo những nguyên tắc sau:
MẠNH HƠN: Ai mạnh hơn sẽ chiến thắng và trở thành tướng. Tộc nào có nhiều mãnh tướng thường chiến thắng trở thành Lãnh chúa.
ĐÔNG HƠN: Ai thu phục được nhiều lãnh chúa thì lập vương quốc, quốc gia và thành Vua
Vậy khả năng nào để một quốc gia dám gây chiến với một quốc gia khác, một nước hay nhiều nước khác!
Qua tìm hiểu từ các cuộc chiến tranh từ xưa tới nay, chúng ta dễ dàng thấy một điều: Yếu tố chính là những ai, quốc gia nào có được vũ khí tầm xa tốt hơn và khả năng tác chiến từ xa, khả năng cơ động đánh xa tốt hơn luôn là những kẻ gây chiến và khơi mào chiến tranh trước các quốc gia khác. 

 PHẦN I
Đạo quân Mông Cổ



ĐỘI QUÂN MÔNG CỔ
Theo Genk.vn

Đầu thế kỷ 13, từ những thảo nguyên hoang vu ở Trung Á, người Mông Cổ đã cất vó ngựa chinh phạt khắp lục địa Á – Âu và tạo nên một trong những đế quốc vĩ đại nhất thế giới. Đế chế Mông Cổ là một trong những đế chế hùng mạnh nhất của lịch sử chiến tranh thế giới.

Đế chế Mông Cổ được Thành Cát Tư Hãn (Ghengis Khan) - nhà lãnh đạo tài năng, xuất sắc đã dẫn dắt những chiến binh từ thảo nguyên từng bước trở thành đạo quân hùng mạnh. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đế chế Mông Cổ đã phát triển lớn mạnh chưa từng thấy. Ở thời điểm cực thịnh của mình, người Mông Cổ đã xây dựng được một đế chế trải dài hơn 9700 km với diện tích lên tới 24 triệu km2, tương đương 1/6 thế giới, chiếm tới 16% diện tích bề mặt trái đất đã rơi vào tay họ. Quân đội Mông Cổ tràn qua châu Á, cướp phá và giết người tàn bạo. Theo các nhà nghiên cứu, khoảng 60 triệu người đã bỏ mạng trong các cuộc xâm lược của quân Mông Cổ.


.. Để chinh phục được một lãnh thổ rộng lớn như thế, người Mông Cổ đã xây dựng cho mình một đội quân thiện chiến bậc nhất lúc bấy giờ. Với khả năng cưỡi ngựa bắn cung trong chăn nuôi, săn bắn trên thảo nguyên, người chiến binh Mông Cổ khi tham chiến thật dễ dàng lùa đối thủ của mình như lùa những con thú, rồi hạ gục họ và người đã thu phục và tập trung những chiến binh này là thủ lĩnh Thiết Mọc Chân - Temüjin, sau trở thành Thành Cát Tư hãn của Đế quốc Mongol - Mông Cổ.

TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI
Thủ lĩnh Thiết Mộc Chân sau khi thu phục và sát nhật các bộ tộc trên thảo nguyên đã thiết lập hệ thống cai trị quân đội theo phân cấp: Thập hộ trưởng - arban (10 lính), Bách hộ trưởng - zuun  (100 lính), Thiên hộ trưởng - myangan (1000 lính) và Vạn hộ hầu - tumen  (10.000 lính). Mổi thủ lĩnh mỗi cấp có quyền cai quản chăm lo cuộc sống số hộ dân tương đương với cấp của mình đảm nhận và có trách nhiệm luôn đảm bảo đủ số lính khi có chiến tranh. Với chính sách này, Thủ lĩnh Thiết Mộc Chân đã tăng nhanh quân số cho đạo quân của mình qua các cuộc chinh phục mà ông không phải lo lắng về việc cai trị dân chúng các bộ tộc đã khuất phục. Mỗi đội quân nhỏ nhờ có tính cục bộ địa phương bộ tộc riêng nên họ hiểu rõ nhau, luôn bảo vệ nhau trong giao chiến và luôn mong dành nhiều chiến công để mở rộng đội quân bộ tộc của mình bằng các chiến lợi phẩm là những hộ dân nô lệ..
Trong các cuộc viễn chinh, các tướng lĩnh, thủ quân các đội quân luôn được tưởng thưởng ngay tại trận mạc những chiến lợi phẩm thu được hoặc do cướp bóc từ những thành phố, làng mạc của đối phương theo chiến công của đội quân do mình phụ trách lập nên, không cần phân biệt giai cấp, đẳng cấp xã hội. Chính điều này đã làm cho các đạo quân của Thành Cát Tư Hãn mỗi khi viễn chinh không phải lo lắng về lương thực và luôn tự lớn mạnh nhờ sự gia nhập của các bộ tộc đơn lẻ, của các thành phần dân du mục,… chỉ luôn hả hê với việc cướp bóc, chém giết. Nhưng cũng chính điều đó mà đạo quân Mông Cổ cũng bị cho là đạo quân tàn bạo nhất

NGỰA – Tóc độ hành quân và tập kích
Người Mông Cổ có máu du mục ở trong tim. Họ mạnh mẽ khi chiến đấu trên lưng ngựa. Ngựa cũng được coi là một chiến binh, một loại vũ khí không thể thiếu được. Giống ngựa Mông Cổ bắt nguồn từ những đồng cỏ phương Bắc với vóc dáng có phần nhỏ hơn, chân ngắn hơn, bờm và đuôi rậm hơn, song chúng ít đòi hỏi chăm sóc, sức chịu đựng tốt, có thể sống quanh năm bằng cỏ mọc trên thảo nguyên, đặc biệt thích nghi tốt với khí hậu cận ôn đới.
Quân đội Mông Cổ có thể tác chiến hiệu quả ở những vùng đất lạnh giá như Siberia cũng như vùng đất nóng bức Arabia. Ngựa chiến đóng vai trò quan trọng trong các cuộc chinh chiến của đạo quân Mông Cổ. Nhiều cường quốc đã từng gặp vấn đề trong những lần thực hiện cuộc xâm lược vào mùa đông, nhưng với đội quân Mông Cổ thì lại không gặp trở ngại gì, cùng với ngựa chiến đội quân Mông Cổ có thể di chuyển không cần cầu đường, vượt qua các dòng sông băng để bất ngờ tiến đánh các thành trì của đối phương.
Trong suốt thế kỷ XIII, vó ngựa của quân xâm lược Mông Cổ đã tung hoành khắp nơi, ngựa Mông Cổ có thể nói là phương tiện duy nhất để di chuyển đại quân từ Á sang Âu. Vó ngựa Mông Cổ được coi là đi đến đâu thì cỏ không mọc được, phi đến đâu thành bình địa đến đó.

CHIẾN THUẬT
Kỵ binh Mông Cổ xưa nay khi tác chiến đều không mang theo quá nhiều lương thực. Khi hành quân, phụ nữ thường lùa gia súc theo, cùng với tốc độ hành quân của đại quân, hai bên có quân kị theo kèm bảo vệ. Đoàn gia súc này chính là lương thực của họ: có sữa để uống,  có thịt để ăn. Quân Mông Cổ ưa thích lối đánh “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, nuôi quân bằng lương thực, chiến lợi phẩm cướp bóc được trên đường tấn công.
Lối đánh của người Mông Cổ có hai điểm nổi bật, đó là dùng tốc độ ngựa phi bất ngờ đánh nhanh thắng nhanh và giả thua rồi đột ngột quay lại tấn công. Cả hai chiến thuật này đều làm cho hàng ngũ địch mất tinh thần, rối loạn.


Họ có thể bắn tên cực kì chính xác khi phóng ngựa nhanh và thậm chí có thể xoay người bắn ngược chính xác vào kẻ truy đuổi. Chính vì thế, đòn "hồi mã cung" được coi là "đặc sản" của đội quân Mông Cổ.
Chẳng hạn như để tạo uy thế sức mạnh của các đội kỵ binh thiện chiến, phát huy tối đa lợi thế di chuyển nhanh, quân Mông Cổ thường dùng bài chia cắt, chẻ lực lượng quân đối phương tan mỏng ra và áp đảo các cánh quân nhỏ lẻ này bằng cung nỏ.

VŨ KHÍ: Cung và tốc độ bắn
Khi cung nỏ được đưa vào chiến trường và có tính quyết định thắng bại của trận chiến, người ta mới chú ý phân loại về cung nỏ và sự lợi hại của vũ khí tầm xa này.
Cung tên xuất hiện từ những thợ săn, vì phải luồn lách trong rừng để theo rình con mồi nên cung thưởng ngắn (Short bow) và đơn giản. Tầm bắn khoảng 25 – 30m phù hợp với tầm nhìn và khả năng thu hồi chiến lợi phẩm của thợ săn. Loại cung này không dùng trong chiến trường được.
Xuất thân từ thảo nguyên – những thợ săn người Mông Cổ với tài cưỡi ngựa tuyệt đỉnh nhằm theo đuổi và lùa dã thú, mắt nhìn rộng trên thảo nguyên tìm mồi, tay chân khỏe mạnh, dẻo dai nên họ sử dụng loại trường cung có tầm bắn xa hơn. Khi trở thành chiến binh cung Thủ Mông Cổ có thể bắn nhiều mục tiêu cùng lúc xứng đáng là bậc thầy chiến đấu. Cung thủ Mông Cổ sử dụng chủ yếu là loại composite bow (Cung cải tiến), một người lính có khi được trang bị từ 2 – 3 cây cung và vô số tên bắn.
Cung cải tiến (Composite bows): Được phát minh ra bởi người Ai Cập, ở châu Á thời Xuân Thu Chiến Quốc ( khoảng thế kỉ 4 trước công nguyên ) người Trung Quốc cũng có loại cung này. Nó dài hơn cung ngắn (Short bow – Cung đi săn) . Mũi tên đã đạt đến chiều dài 80–85 cm (của người Ba Tư), thậm chí lên đến gần 90 cm (của người La Mã). Tầm bắn của Composite bow khoảng 180m và khả năng xuyên thấu mạnh.
Composite bow được làm từ rất nhiều nguyên liệu khác nhau như gỗ, tre, sừng, gân động vật. Lòng cung làm bằng tre hoặc gỗ quý được dát sừng trâu, ngà voi và được quấn lại bằng gân trâu bò thuộc. Cánh cung làm bằng gỗ dâu, cũng có khi làm bằng sừng hoặc ngà. Chuyện về chiếc cung được làm bằng Ngà voi, đó là trường-hợp của Cây Cung ngoại lệ bằng ngà của Sở Cung Vương vào thời đại Xuân Thu (722-481 trước CN) đã đưa cho nhà thiện xạ Dưỡng Do Cơ bắn chết Ngụy Kỳ.
Vật liệu chế tạo là thế  còn kỹ thuật chế tác Composite bow cũng cực kì phức tạp đòi hỏi kỹ thuật chuyên môn rất cao, nên ở nhiều quốc gia thời Trung Cổ thợ làm cung luôn được coi trọng trong xã hội.


Cung của người Mông Cổ là một chiếc cung cải tiến uốn ngược phức hợp 3 khúc, một vũ khí được gia công bằng gỗ, sừng và gân động vật. Các cung thủ Mông Cổ thường luyện tập với bia bắn cách xa 200 m . Tầm bắn chiến đấu của cung Mông Cổ được là 200 - 300 yard ( 182 - 275m ), nó có thể phóng một mũi tên xa tới 300m.
Khi người Mông Cổ đặt chân lên Nhật Bản họ đã ngạc nhiên vì tầm bắn hạn chế của cung Nhật và dĩ nhiên họ dễ dàng áp đảo quân Nhật từ khoảng cách xa hơn. Tuy nhiên sau khi Mông Cổ đã rút đi, người Nhật vẫn duy trì cách sử dụng cung truyền thống, có lẽ là bởi cách đánh trận của người Nhật thường trang bị giáp dày và nặng. Vì thế yếu tố xuyên giáp tầm gần mới là mục tiêu chính của các cung thủ Nhật. Dân Đại Việt ta cũng đã có vinh dự đối mặt với đạo quân này rồi.
- Thân Tên : Thời Thượng Cổ, Thân Tên được làm bằng gỗ, vì trọng lượng nặng mà tên bắn không được xa. Đến thời Trung Cỗ, thân Tên được làm bằng Cỏ Bồng, nên bắn được xa hơn nhiều. Và chính vì thế mới có thành ngữ  “Tang Bồng Hồ Thỉ” (Cung người Hồ bằng gỗ Dâu, Tên bằng cỏ Bồng) để nói về chí khí kẻ làm trai.
Tuy nhiên Thân Tên làm bằng Cỏ Bồng không bền chắc để sử-dụng ngoài sa trường, nên về sau Thân Tên được làm bằng gỗ Thông Bá Hương, vừa nhẹ lại vừa bền chắc và dẽo dai hơn. Theo sử sách, khả năng dùng tên của người Mông Cổ cũng đã được công nhân, họ đã sử dụng nhiều loại tên, nổi tiếng nhất là Tên Còi: là một loại mũi tên rỗng ruột (như cây sáo, tạo ra âm thanh như tiếng huýt sáo). Mỗi khi cung thủ Mông Cổ tấn công, tiếng rít của những mũi tên phóng ra đã gây bao nỗi kinh hoàng cho kẻ thù vì tiếng rít vừa dứt thì vó ngựa đã ập đến chém giết của đạo quân Mông Cổ hung tàn.
Loại tên này cũng được các thủ lĩnh Mông Cổ sử dụng chủ yếu để ra hiệu trong trận mạc.
- Mũi tên: Thời kì đầu, mũi tên được làm bằng đá lửa. Về sau được làm bằng xương rồi được đúc từ đồng, sắt và cuối cùng là thép trui. Đầu mũi tên có nhiều hình dáng khác nhau, thường được bịt thép, có thể có ngạnh và tẩm độc.

THÔNG TIN LIÊN LẠC
Thành Cát Tư Hãn đã biết tận dụng tài cưỡi ngựa của chiến binh Mông Cổ và sự di chuyển nhanh lẹ của ngựa để thiết lập hệ thống thông tin chiến sự.
Hệ thống bưu chính của đế quốc Mông Cổ cũ được gọi là Yam – có nghĩa là "trạm kiểm soát". Một chiến binh đưa thư thường phải di chuyển 40 km giữa 2 trạm kế tiếp nhau. Sau đó người này có thể nhận ngựa mới đã được nghỉ ngơi hoặc đưa thư đó cho người tiếp theo để đảm bảo tốc độ chuyển thư nhanh nhất có thể. Một ngày chiến binh Mông Cổ có thể di chuyển quãng đường 200km.
Tại một thời điểm, trên toàn bộ diện tích Mông Cổ chiếm được có khoảng 1.400 trạm như thế với hơn 50.000 con ngựa sử dụng để chuyển thư tín, bưu phẩm.
Trong chiến tranh, nhờ thông tin chiến sự kịp thời đã giúp Thành Cát Tư Hãn và các bộ tướng của ông như Cáp Tát Nhi (Khasar) Hợp Xích Ôn (Khajiun), Thiết Mộc Cách (Temüge) Tốc Bất Đài ( Subutai) Triết Biệt (Jebe)… chuyển bại thành thắng nhiều trận chiến sinh tử.

Do đó, với ưu thế vượt trội tác xạ tầm xa cộng với khả năng di chuyển nhanh dễ dàng chiếm lĩnh ưu thế về địa hình đã giúp cho một dân tộc du mục nhỏ bé Mông Cổ dám gây chiến và chiến thắng chiếm lĩnh nhiều vùng đất rộng lớn của nhiều quốc gia lớn mạnh hơn họ nhiều lần.

Sau những thành công vang dội của Đạo quân Thành Cát Tư Hãn, các đội quân cung binh đã được nhiều quốc gia quan tâm xây dựng, nâng cấp cũng như chú tâm trong việc chế tạo vũ khí tầm xa này, lực lượng kị binh nhẹ cũng không ngoại lệ nhằm chiếm ưu thế trên chiến trường hay nhanh chóng tập kích hoặc phòng thủ tích cực. Hai đối tượng sức mạnh quân sự này sau này phát triển thành các lược lượng pháo binh, tên lửa nhằm khống chế tầm xa, thành lực lượng không quân, lính dù đổ bộ và các loại chiến xa nhằm tăng khả năng tác chiến tầm xa tại các quốc gia có tiềm lực quân sự hiện nay.

Còn tiếp: PHẦN II – NHỮNG CUỘC CHIẾN CỦA NAPONEON
SG, Oct 22, 2017
Street Talk


Thursday, February 11, 2016



NÓI CÂU CHÚC TẾT
Thiệt tình là mỗi khi Tết về thì tôi tồ nhất khoản nói lời chúc Tết đến mọi người.
Hồi còn là HSMN thì mấy khi gặp được người lạ ngày Tết đâu chỉ biết "Năm mới thắng to". Sau này thì cũng biết bập bẹ "Năm mới thắng lợi mới"


Giải phóng MN, về ở với gia đình, cứ dịp Tết đến là chở Ba má đi chức Tết mọi người, thế là nhược điểm cứ thế lộ diện trước bàn dân thiên hạ. Gặp người lạ là chàng trai 15, 16 tuổi cứ e thẹn, ấp a ấp úng nói không ra ngô ra khoai gì cả. Chán đến nỗi Ba tui phải nói " Đồ trời gầm, đi ăn học ta bà thế giới mà hữu dõng vô ngôn"
Chính vì là điểm yếu của bản thân nên tôi hay để ý mọi người chúc nhau thế nào. Ôi bao mỹ từ tuôn trào từ họ làm mắt tôi cứ lé xẹ luôn. Trong xóm có gia đình anh Út là tôi thích ghé thăm chúc Tết vì nếp nhà giản dị, con cháu hội tụ mấy ngày Tết đông đúc. Nhưng khoái nhứt là nghe họ chúc nhau, nghe cứ như thơ ca tuôn trào từ nhiều người họa.
Sáng nay Mùng 3 Tết, đang ngồi uống cà phê ở đầu ngõ thì anh Út ghé vô: "Tân xuân Phúc đáo, lát nhớ ghé tao làm vài xị mậy Ba" Ba là tên tôi. Đấy mới nghĩ tới họ là họ đã xổ nho ngày xuân rồi, hay thiệt.
- Năm mới Phát tài anh Út, cà phê nhen - Tôi nói. Anh kêu ly cà phê sữa đá rồi nói:
- Cám ơn chú mày, nhưng tao đâu có đánh bài đâu mà "phát tài" - Trời à, tôi lại tẽn tò rồi. Tôi biết trong Nam này họ thường chúc nhau phát tài khi chơi bài ăn tiền ngày Tết, nhưng do quen miệng xã giao nên bị hố.
- Hỏi thiệt sao anh Út với mấy đứa nhỏ nhà anh chúc Tết nghe hay ghê zvậy? - Tôi tò mò. "Nhà ổng chơi cho chữ mà" Bà chủ quán xía vô câu chuyện.
- Là sao anh Út?
- Hà hà... đúng đó Ba - Anh Út tự hào - Nhà tau nông dân rặt, lo cho tụi tau ăn học đứa tới đứa không, nên mấy ông anh học cao nó chúc hay còn tau lớp 4 chống mù chữ, nên cứ chúc là cả nhà cười. Thấy zvậy nội bàn với ông già (người cha) bắt tụi tau cứ giao thừa họp mặt gia đình là cho chữ để chúc nhau.
- Dạ, chưa hiểu?
- Cái thằng... "ngu lâu có thưởng" - anh Út tiếp - Tức là ổng ra chữ tụi tau theo chữ mà chúc nhau. Thí dụ cho chữ Trường thì Trường thọ, trường lộc. Cho chữ An thì An khang - An lạc, chữ Tấn thì Tấn tài, tấn lộc. Đó cứ thế mà mần miết thành quen. Đến khi tau tiếp quản nhà hương hỏa này cũng y zvậy mà bày cho con cháu mần theo.
- Aha hay - tôi gợi ý anh Út, đặng tý ghé nhà cũng có câu chúc thuận theo mọi người - Zvậy năm nay là chữ gi anh Út?
- Chữ PHÚC
- !!!
SG 10-02-2016
Mùng 3 Tết Bính Thân 2016
Street Talk

Friday, September 11, 2015

HỢP TÁC KD WIN – WIN 50:50


1. CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Lô đất thổ vườn diện tích: 70m x 10m. Giá bán: 3 triệu đ/m2

Vị trí: Ấp 7, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, TPHCM

-         Mặt tiền bờ kinh C, đường nhựa 8m

-         Khu vực các khu CN: Tân Tạo, Lê Minh Xuân, Vĩnh Lộc B, Đức Hòa

Liên hệ chính chủ: Ông Ba – 0903969996

2. HỢP TÁC KD WIN – WIN 50:50

Hợp tác XDKD nhà trọ công nhân – 36 phòng, có thể mở rộng thêm

Đơn giá: 1 triệu đ/tháng/phòng 3mx3m, gác lửng, toilet, đồng hồ điện riêng.

Cần hợp tác lâu dài với người có tâm huyết: đầu tư hưu trí, đầu tư thân nhân VN

-         Đầu tư vốn 500 triệu đồng: XD cơ sở, điện, nước, GP tiêu chuẩn trọ mẫu

-         Hàng tháng: Thu = 36.000.000đ – chi phí: điện, hành chánh, lãi suất NH

-         Phân chia lợi nhuận: 50 : 50

-         Lợi nhuận sẽ cao hơn gởi NH, thậm chí hơn cho vay nóng 3%/tháng

-         Dòng tiền thu đều hàng tháng. Camera giám sát, quản lý thu chi.

-         An tâm nhanh thu hồi nguồn vốn, không rủi ro, không mất giá.

Liên hệ chính chủ: Ông Ba – 0903969996

 


Thursday, August 27, 2015

TUYẾN ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM VỚI TỔNG THỐNG PHÁP THỨ 14

TUYẾN ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM VỚI TỔNG THỐNG PHÁP THỨ 14

Dẫu biết nỗi uất hận của các dân tộc bị thuộc địa là rất lớn đối với chủ nghĩa thực dân, nhưng không thể phủ nhận các chính quốc cũng đã mang khoa học kỹ thuật tiên tiến của nhân loại đến các xứ thuộc địa. Tất nhiên là họ đã dùng các kỹ thuật tiến bộ đó để khai thác tài nguyên và bóc lột người dân thuộc địa. Và theo xu thế thời đại, các nước thuộc địa cũng dần trở nên độc lập và người bản địa cũng tận dụng những cơ sở vật chất của thực dân để lại mà khai thác tài nguyên và “khoan sức dân” để tăng trưởng kinh tế.


Việt Nam cũng là một trong những nước đã tự mình giành được độc lập 1945.Việt Nam đã được thừa hưởng từ chủ nghĩa thực dân như chữ viết hệ la-tinh, các mỏ khai thác khoáng, các nhà máy điện, hệ thống giao thông và đặc biệt là tuyến đường sắt Băc – Nam. Người có công lớn trong các công trình này là người sau này trở thành Tổng thống thứ 14 của nước Pháp.
Joseph Athanase Gaston Paul Doumer (1857-1932)












Cầu Doumer - nay là cầu Long Biên, Hà Nội, Việt Nam























Ông Joseph Athanase Gaston Paul Doumer (1857-1932), Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897-1902, sau là Tổng thống Pháp thứ 14 từ 1931-1932. Trong thời kỳ làm Toàn quyền Đông Dương, ông đã cho xây dựng rất nhiều đường xá, cầu cống, các tuyến đường sắt, đặc biệt là tuyến đường sắt nối Bắc – Nam. Các công trình đó vẫn được người dân Việt Nam sử dụng cho tới ngày nay.
·                    Năm 1886 tuyến đường sắt Sài Gòn  Mỹ Tho đã hoàn thành. (Không còn)
·                    Năm 1902, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội  Đồng Đăng;
·                    Năm 1902, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Hải Phòng;
·                    Năm 1906, Pháp xây dựng xong Đường sắt Hà Nội – Lào Cai;
·                    Năm 1931, Pháp xây dựng xong Đường sắt Tháp Chàm  Đà Lạt; (không còn)
·                    Năm 1933, Pháp xây dựng xong Đường sắt Sài Gòn – Lộc Ninh; (Không còn)
·                    Năm 1899 - 1936, Pháp xây dựng xong tuyến Đường sắt Bắc Nam
Khánh thành tuyến đường sắt Sài Gòn - Chợ Lớn 1881

Ga Sài Gòn - 1920














Ga Hà Nội xưa - ga Hàng Cỏ















Ngày nay chánh phủ Việt Nam vẫn đang sử dụng và cứ loay hoay trong việc nâng cấp hệ thống đường sắt mà người Pháp đã để lại hơn 100 năm nay. Điều đó cho thấy để điều hành một quốc sách phát triển một lãnh vực không phải là đơn giản. Chính vì lẽ đó mà chúng ta càng hiểu thêm rằng công lao đưa ra quyết sách với quyết tâm thực hiện bằng được tuyến đường sắt của ông Paul Doumer vào thời điểm đó giá trị như thế nào đối với đất nước Việt Nam.

Thanh niên Miền Bắc tòng quân











Bộ đội sửa chữa đường sắt

















Điều chúng ta, những người thụ hưởng tuyến đường sắt đó cứ day dứt rằng Việt Nam có nên có một bức tượng nhỏ ghi nhận công lao của ông Paul Doumer. Sẽ rất khó cho chánh phủ hiểu được rằng “truyền thống cách mạng” rất vẻ vang nhưng dù sao vẫn chỉ phản ánh một giai đoạn lịch sử. Còn nguồn gốc hình thành nên chuỗi lịch sử và nó còn tiếp diễn mãi về sau là điều cần thiết phải ghi dấu.
Chính lúc này là thời điểm tốt để ghi dấu đó vì chánh phủ Việt Nam đang nỗ lực đầu tư nâng cấp toàn tuyến đường sắt Bắc – Nam. Và địa điểm có lẽ thích hợp nhất là ga Đà Nẵng mới, vì trong quá trình duyệt quyết sách xây dựng tuyến đường sắt này ông Paul Doumer đã có kỷ niệm sâu sắc về chuyến đi khảo sát gian khổ đến Đà Nẵng trong cuốn hồi ký L’Indochine Française (Souvenirs) kể lại đoạn đường 800 km mà ông cùng người tùy tùng, thiếu tá Nicolas, trải qua (từ trang 232 đến 236) do nhà xuất bản Vuibert & Nony, Paris in năm 1903. 


Tháng 8-2015
Ba Đông
Một kiểu biểu tượng duy nhất - Ga Đà Nẵng
Một kiểu biểu tượng duy nhất - Chụp tại ga Hòa Hưng, Sài Gòn

Một kiểu biểu tượng duy nhất - Ga Vinh, Nghệ An





Saturday, June 13, 2015

CHUYỆN NHÀ ÔNG SÁU ĐỰC



CHUYỆN NHÀ ÔNG SÁU ĐỰC



Vùng đất đẹp  phía Tây Thành phố với nhiều kênh rạch, ốc đảo thanh bình.
Xóm giềng của chúng tôi có mười mấy hộ gia đình, trong đó quan trọng nhất với tôi là nhà ông Sáu Đực ở mảnh đất liền kế bên đất gia đình tôi.
Ông Sáu là nhà nông truyền thống. Vợ ông đã mất từ lâu. Ông có 3 đứa con. Thằng Hai tên Đảm là một thanh niên từng trải, khôn ngoan có phần ranh mãnh. Sau khi mẹ mất nó là cánh tay đắc lực thay ông Sáu bương trải cực nhọc làm ăn để nuôi sống gia đình. Giờ nó là thanh niên cứng, quan hệ và giao du xã hội rộng nhưng cũng có phần phức tạp. Nó vẫn thường xuyên cùng đám con nhà ông Phát ở xóm trên đi hàng biên giới. Thậm chí nó còn cho vay nặng lãi và giao du với một số đám ma cô, đá cá lăn dưa sẵn sàng gây khó dễ cho những ai mà chúng không ưa.
Thằng Ba tên Được là một cậu bé tuyệt vời, duy chỉ có cái bịnh hơi mát mát. Nghe nói thời trung học cậu là một học sinh rất giỏi. Rồi không hiểu sao năm cuối phát bịnh tưng tưng bỏ thi đại học luôn, ở nhà cùng mẹ làm ruộng vườn và nuôi vịt đồng ở mấy doi đất dọc bờ kênh. Có lẽ học quá hóa rồ theo cách nói dân gian. Từ khi mẹ cậu mất thì cậu trở nên lầm lì hơn và vẫn chăn vịt đồng trên kênh.
Cô bé Út tên Điệp là đứa trẻ tôi thích nhất trong đám con ông Sáu Đực. Đó là một cô gái đa tài, năng động, hoạt bát và ngang tàng. Ngoài học giỏi mà võ cũng giỏi, lại thêm thích ca hát, ưa sinh hoạt cộng đồng. Đám bạn bè của cậu Hai Đảm cũng phải kiêng dè cô bé. Cô bé thủ khoa năm nào, sau khi tốt nghiệp đại học dám từ bỏ lời mời làm việc tại một hãng nước ngoài để cùng bạn bè hợp tác kinh doanh. Hiện cô là chủ gian hàng nông thủy sản tại khu phố chợ. Mấy cậu con trai của chú Khởi cuối xóm chết mê chết mệt cô bé vì cô bé xinh xắn lại hay giúp đỡ họ, ấy vậy mà cứ xáp nhậu với nhau thì y như rằng các cô cậu lại cãi nhau chí chóe, nhưng rồi cũng vẫn nể và mê cô bé.
Hôm rồi tại buổi họp tổ dân phố do xã tổ chức, vấn đề các hộ lấn chiếm kênh làm cản trở lưu thông thủy được đưa ra. Gay gắt nhất là vụ hộ ông Phát đã công khai bồi đắp mấy doi đất để xây dựng kiên cố. Thằng con ông đang tại chức trong quân đội ngang nhiên kéo mấy xà lan chở đất cát đến rồi neo đậu ngang ngược giữa kênh. Từ lâu bà con trong vùng bức xúc kêu ca lên xã mà có thấy ai dám xuống dẹp bọn ngang ngược đó đâu. Trong buổi họp đó khi các hộ khác đấu thẳng thừng với ông Phát về việc lấn chiếm lòng kênh gây cản trở lưu thông làm ăn của mọi người thì thằng Hai Đảm ngồi im re. Có lẽ do nó còn đang làm ăn với mấy thằng con ông Phát nên cả nể.
Vẻ mặt của thằng Hai Đảm nghệt ra khi mọi người nói về mấy doi đất ông Phát xây lấn, mà trước đây từng là của nhà nó. Nó không thể nào quên ngày mẹ nó mất khi bà hay tin mấy thằng con ông Phát phá mấy cái chòi vịt của bà. Cả đời bà tần tảo bám ruộng, bắt ốc nuôi vịt đều dựa vào mấy doi đất đó. Ông Sáu lúc đó đang ở cùng đội sản xuất với ông Phát ở tập đoàn (hợp tác xã). Bà Sáu, khi đó dù đang mang bầu con bé Điệp, đã cùng thằng cu Được vác đòn gánh ra cản mà không được. Bà uất ức sinh bịnh, rồi thai nghén sanh nở, yếu lại yếu thêm nên bà ra đi trong sự giận tủi.
Sau khi hoàn thành chuyến công cán của tập đoàn chúng tôi cùng trở về, ông Sáu bất ngờ sụp đổ trước sự mất mát quá lớn của gia đình ông. Thằng cu Được thì đang gào thét bên thi hài mẹ nó, con bé Điệp thì ngặt nghẽo tím bầm đòi vú mẹ, còn thằng Hai Đảm thì điên tiết uýnh lộn với đám con nhà ông Phát sặc máu mồm. Ông bần thần đờ người lo mai táng cho vợ rồi cũng sinh bịnh liệt giường mà không có thuốc thang nào trị vì nghèo. Trong nhà giờ tất cả chỉ cậy nhờ vào  thằng Hai Đảm.
Sau khi đi nghĩa vụ quân sự và tham gia chiến tranh biên giới trở về, Hai Đảm có thời gian tham gia công tác tại địa phương. Nhưng thu nhập quá ít trong khi cha thì bịnh liệt giường, các em quá nhỏ, nên Hai Đảm quay sang làm đủ nghề để cứu cuộc sống gia đình nó. Từ khuân vác, chạy giao mối, buôn hàng biên giới đến cò đất… nó đều lăn vào vật lộn.
Lo cho cuộc sống gia đình tạm ổn, các em học hành xong, Hai Đảm ki góp ít vốn tùng tam tụ ngũ với đám con ông Ba Phát nhận thầu xây dựng. Trúng được mấy dự án xây dựng tốt nên Hai Đảm đã tích góp được số vốn kha khá nó liền tham gia chơi chứng khoán, rồi cho vay. Cuộc sống gia đình ông Sáu không những ổn định mà còn khang trang. Cậu cu Được bịnh tình giảm hẳn, ở nhà lo ruộng vườn và chăm sóc ông Sáu. Cô bé Út Điệp có sạp chợ, hàng bán mối mang nhiều nên cũng khá giả, đã phụ được anh Hai lo cho gia đình
Vậy mà giờ đây gia đình ông Sáu lại gặp tình cảnh oái ăm nên phải trông chờ vào nó, anh Hai lớn trong nhà. Điều làm cho Hai Đảm uất nghẹn ở đây không phải vì mấy doi đất kia, mà vì sau bao năm hợp tác cùng nhau, giờ nó mới thấy rõ bộ mặt thật của chiến hữu cùng chí hướng mà nó tin tưởng tuyệt đối. Trước đây nó với đám con ông Phát đã từng đánh nhau vỡ mồm và kịch không thèm dòm nhau nữa. Nhưng cuộc sống xô đẩy, nó lại liên kết với chúng để làm ăn cùng nhau và phải công nhận cũng đã đạt thành quả mỹ mãn. Rồi chúng nó cùng nhau dự tính đầu tư lớn chuyển hóa cả một vùng xóm kênh này thành một khu đô thị chuẩn về cảnh quan và môi trường sống. Hai Đảm rất háo hức với dự án này, vì theo đó gia đình nó và cả mười mấy hộ láng giềng sẽ được hưởng lợi rất lớn theo cách tính toán của chúng nó.
Nếu đúng theo toan tính của cậu Hai Đảm khi dự án thành công, cậu sẽ giao đất này lại cho cu Được chăm nom phát triển vì bé Út Điệp sẽ theo chồng, còn cậu sẽ mua nhà và ở trên phố để tiện giao thương quốc tế!, rồi lấy vợ sanh con, ôi một giấc mơ tuyệt đẹp.
Nhưng giờ đây giấc mơ đã sụp đổ hoàn toàn trước mắt Hai Đảm bởi đám con ông Phát đã hành động quá sức càn rỡ nên bị cả xóm và chánh quyền phản ứng. Hai Đảm đau nhất là chúng nó lại chọn ngay chính đất nhà mình để bày vẽ triển khai dự án, bởi cũng chính vì nó là đứa nhiệt tình, toàn tâm toàn ý theo dự án Phương Đông Tươi hồng với chúng ngay từ đầu.
Chiều nay, Hai Đảm lầm lũi vác rìu ra sát bờ rào ranh đất nhà nó. Trên kênh thằng cu Được đang lướt chiếc xuồng nhôm do một nhà từ thiện tặng nó, lùa đàn vịt đồng về để tránh chúng bị bắt mất khi bơi lố lên phía doi đất cũ đã bị lấn chiếm. Vẳng xa từ cuối xóm tiếng cười khanh khách của con bé Út Điệp đang tụ tập cùng đám thanh niên sinh hoạt tập thể. Hai Đảm lặng lẽ bổ từng nhát, từng nhát xuống hàng rào. Nó đang chêm thêm cây cho vững bờ rào bao bọc đất nhà nó.
Tiếng đóng cọc rào của thằng Hai Đảm vang vang khuấy động cả xóm kênh, âm thanh cứ như nghèn nghẹn vang trong sắc hồng đang lịm dần của buổi chiều hoàng hôn.

Saigon, June 12, 2015



Tuesday, November 11, 2014

LAK LAKE IN THE CENTRAL HIGHLAND VIETNAM



Lak Lake is about 50km to the southeast of Buon Ma Thuot, and is firmly established on the itineraries of most of the group tour operations in the area. It's a large, scenic lake and there are enough activities going on around it to keep you busy for a day or two if want to do everything. Activities are based out of the tourist village on the southern side of the lake. The village has three-star accommodation, with a swimming pool and a very good floating restaurant where we had a fine affordable meal. There are also a couple of traditional longhouses you can spend the night at, along with some guesthouse style rooms near the main reception building.



Activities include riding in a dugout canoe -- US$10 for 2 people, they supply the rower. Gong shows with rice-wine drinking and a roast pig are available for US$60 for groups of up to 30. Elephant rides are US$30 per hour, per elephant, two passengers maximum. Trekking in the surrounding mountains is available for US$20 per person per day, and bike rentals include a map you can follow -- along the route is a rocky cliff at the base of which there's good swimming. It costs 25,000 VND for 1/2 day, 40,000 for a full day, or 10,000 per hour. A M'nong village 1.6km further down the main road from the lake can also be visited, but it's not much of a stand out as far as ethnic villages in the area go.
More details
50km southeast of Buon Ma Thuot
How to get there: If you have your own transport, you can reach Lak Lake by heading north from the roundabout on Nguyen Tat Thanh St in Buon Ma Thuot. About two kms up the road is Nguyen Van Cu St -- take a right. About 2.5 km down the road there's a turnoff for Route 27 which leads 47km down to Lak Lake. Some of the road is still fairly rough, but the views are quite scenic. When you get to the lake, circle around to the far side to find the facilities and accommodation. It's cheap and easy, though time-consuming, to get here by local bus as well. Buses leave from Phan Dinh Giot St, which is south of the traffic circle, just south of Buon Ma Thuot's post office. Buses leave from the south side of the street near the intersection with Le Hong Phong: 10,000 VND, makes a lot of stops, takes about two hours. From Lak Lake you can flag down any northbound bus heading up route 27. You can arrange tours of the lake from Buon Ma Thuot or contact Lak Lake Tourist directly. Lak Lake Tourist: T: (050) 586 184, 550 F: (050) 586 343.